vanban.org

Quyết định 1082/2023/QĐPT-DS — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/11/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp quyền sở hữu tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1082/2023/QĐPT - DSThành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét phiên họp phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Hương.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Ông Uông Văn Tuấn.

- Thư ký phiên họp: Ông Lê Đình Quyện - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

Trong ngày 23/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp phúc thẩm vụ việc thụ lý số 487/TLPT - DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 để xét kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, TP . về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo quyết định mở phiên họp xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo số 5092/QĐ - MPH ngày 02 tháng 11 năm 2023.

NHẬN THẤY

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023,Tòa án nhân dân Quận 12, TP . đã căn cứ vào các điều 48, điểm e khoản 1 điều 192, khoản 2 điều 193, điểm g khoản 1 điều 217, các điều 218, 219, 273 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1945

Địa chỉ: số C đường Đ, Hẻm A, Tổ F, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Hồ Thị Á, sinh năm 1951, chết năm 2022.

Địa chỉ: số C, Tổ F, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Hồ Thị Á:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Đ, sinh năm: 1974

Địa chỉ: 1, Tổ B, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1979

Địa chỉ: C, Tổ F, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1984

Địa chỉ: C, Tổ F, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Bà Lê Thị Kiều L, sinh năm 1989

Địa chỉ: C, Tổ F, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ủy ban nhân dân Quận A, TP .; Địa chỉ: Số A đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo ngày 22 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đã kháng cáo toàn bộ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, TP ., Thành phố Hồ Chí Minh với lý do ông không đồng ý với quyết định đình chỉ và yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Do Quyết định đình chỉ nói trên bị kháng cáo nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng theo quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự.Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng phúc thẩm, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết phúc thẩm vụ việc. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án dân sự: Về thời hạn kháng cáo: Ngày 16/8/2023, Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 311/2023/QĐST-DS, ngày 19/8/2023 tống đạt trực tiếp cho ông Nguyễn Văn T, ngày 22/8/2023 nguyên đơn ông Nguyễn Văn T nộp đơn kháng cáo. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì kháng cáo còn trong hạn luật định.

Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do ông không đồng ý Quyết định đình chỉ và yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Nhận thấy: Căn cứ vào nội dung Thông báo số 154/TB-TA ngày 21/7/2023 và biên bản làm việc ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12 thể hiện ông Nguyễn Văn T không đồng ý làm đơn khởi kiện lại, không cung cấp được họ tên, năm sinh, địa chỉ của những người trên phần đất tranh chấp và họ tên, năm sịnh, địa chỉ của những người đồng thừa kế của bà Hồ Thị Á (bị đơn đã chết) nên không cung cấp được hết cho Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 12 đình chỉ giải quyết vụ án là đúng theo điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 2 Điều 193, điểm g khoản 1 điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP . đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY

Sau khi thẩm tra và xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét phiên họp xét thấy:

- Tại Đơn khởi kiện ngày 29 tháng 11 năm 2013 (bút lục số 20 - 21), ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết Hủy bỏ giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4432/2008 - UB - GCN ngày 10/11/2008 do A cấp cho bà Hồ Thị Á, yêu cầu bà Á trả lại cho ông phần đất có diện tích 231,3 m2 thuộc một phần thửa 269 tờ bản đồ số 64.

- Tại Đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 19/12/2016 (bút lục số 25, 26) ông Nguyễn Văn T xác định bà Hồ Thị Á giả mạo hồ sơ để lấn chiếm và được cấp giấy chứng nhận cho khu đất có diện tích 640 m2 và khu đất có diện tích 574,4 m2 của ông, nhưng ông lại không ghi rõ cụ thể những vấn đề cụ thể để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bà Hồ Thị Ánh .

- Tại Biên bản ghi nhận sự việc ngày 19/9/2017 (búc lục số 48) thể hiện trong quá trình đo đạc và thẩm định tại chỗ, ông Nguyễn Văn T là người đã hướng dẫn ranh đất tranh chấp để đo vẽ. Tuy nhiên phần đất do ông T hướng dẫn ranh lại có diện tích lớn hơn nhiều so với diện tích đất ông Nguyễn Văn T đang tranh chấp, do đó Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở TNMT - MT TP . không thể tiến hành đo vẽ được.

Theo trích lục khai tử số 204/TLKT-BS ngày 24/02/2022 thì bị đơn bà Hồ Thị Á bị đơn chết ngày 23/02/2022 nên Tòa án nhân dân Quận 12 đã ra các Quyết định (bút lục số 73, 88) để yêu cầu ông Nguyễn Văn T cung cấp tài liệu chứng cứ về Họ tên năm sinh địa chỉ các đồng thừa kế của bà Hồ Thị Á; Họ tên năm sinh địa chỉ của những người đang thực tế ở trên đất tranh chấp.

- Tiếp theo, ngày 21/7/2023, Tòa án nhân dân Quận 12 đã ra Thông báo số 154/TB - TA (búc lục số 76, 77) về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T sửa chữa, bổ sung Đơn khởi kiện: Qua đó xác định rõ quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, diện tích đất tranh chấp và họ, tên nơi cư trú của những người liên quan đang sống, quản lý phần đất tranh chấp. Tại biên bản làm việc ngày 21/7/2023 (búc lục số 75) thể hiện, ông Nguyễn Văn T không đồng ý làm Đơn khởi kiện lại, không cung cấp được họ tên, năm sinh, địa chỉ của những người trên phần đất tranh chấp và họ tên, năm sịnh, địa chỉ của những người đồng thừa kế của bà Hồ Thị Á (đã chết) cho Tòa án. Đồng thời Tòa án nhân dân Quận 12, TP . cũng đã tiến hành xác minh các đồng thừa kế của bà Á và những người đang thực tế ở trên đất tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (búc lục số 66, 67) nhưng không được.

- Tại Biên bản làm việc ngày 21/7/2023 (búc lục số 75) ông Nguyễn Văn T trình bày: "Xác định phần đất bà Hồ Thị Ánh c của tôi là đất rào như tôi đã dẫn ranh đo vẽ tôi chỉ biết vậy chứ tôi không thể biết chính xác diện tích bao nhiêu....".

Hội đồng xét phiên họp nhận thấy, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã đình chỉ giải quyết vụ án và tại Điều 2 của quyết định đã nêu: " Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự nếu xác định rõ thông tin của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong đơn khởi kiện cũng như các điều kiện khởi kiện khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho ông Nguyễn Văn T tiền tạm ứng án phí đã nộp..." là phù hợp theo quy định tại điểm e điểm g khoản 4 Điều 189, điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 2 Điều 193, điểm g điểm h khoản 1 điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Đối với lời đề nghị tại phiên họp của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM là không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và giữ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận. Từ các lẽ trên,

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 311/2023/QĐST-DS ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ