vanban.org

Quyết định 108/2020/QĐST-DS — Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 03/11/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý 325/2020/TLST-DS ngày 09/10/2020 về việc “Tranh chấp bồi thường theo luật trách nhiệm bồi thường nhà nước” giữa:

Nguyên đơn: Ông Khưu Tinh H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án dân sự — "Ông Khưu Tinh H - Ủy ban nhân dân thành phố C T"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý 325/2020/TLST-DS ngày 09/10/2020 về việc “Tranh chấp bồi thường theo luật trách nhiệm bồi thường nhà nước” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N K
THÀNH PHỐ C T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 108/2020/QĐST-DSN K, ngày 03 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào Điều 48; điểm đ khoản 1 Điều 192; điểm g Khoản 1 Điều 217; Khoản 3, Khoản 4 Điều 218; Điều 219; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy, theo đơn khởi kiện và phần trình bày của phía nguyên đơn thì ngày 17/02/2020 ông Khưu Tinh H và bà Phạm Thị Thanh N có đơn gửi Ủy ban nhân dân thành phố C T yêu cầu bồi thường số tiền tạm tính là 1.742.000.000đồng do phần diện tích đất trên thực tế bị thiếu so với diện tích đất mà Ủy ban nhân dân thành phố C T cấp cho ông H, bà N. Ngày 24/3/2020, Ủy ban nhân dân thành phố C T có văn bản số 1057/VPUB-NC xác nhận có nhận được văn bản yêu cầu bồi thường của ông H, bà N và đề nghị ông H, bà N nghiên cứu các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước, các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, ông H, bà N có đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2020 gửi Tòa án nhân dân quận N K khởi kiện Ủy ban nhân dân thành phố C T. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân thành phố C T không có bất kỳ văn bản nào khác gửi cho ông H, bà N. Đồng thời, từ đó đến nay, ông H và bà N cũng không có thêm bất kỳ văn bản, đơn từ nào khác gửi cho Ủy ban nhân dân thành phố C T liên quan đến vấn đề bồi thường.

Theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng giải quyết yêu cầu bồi thường và được thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường. Ngay từ đầu ông H, bà N đã lựa chọn Ủy ban nhân dân thành phố C T – cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ để giải quyết yêu cầu bồi thường. Việc nhận thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Văn bản số 1057/VPUB-NC ngày 24/3/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố C T chỉ hướng dẫn ông H, bà N nghiên cứu các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, không phải kết quả giải quyết liên quan đến yêu cầu bồi thường. Do đó, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý 325/2020/TLST-DS ngày 09/10/2020 về việc “Tranh chấp bồi thường theo luật trách nhiệm bồi thường nhà nước” giữa:

Nguyên đơn:

1. Ông Khưu Tinh H

2. Bà Phạm Thị Thanh N

Cùng địa chỉ: 84 T, phường A, quận N K, thành phố C

T.

Bị đơn:

Ủy ban nhân dân thành phố C T

Địa chỉ: Số 02 H, phường T, quận N K, thành phố C T

2. Hoàn lại cho ông Khưu Tinh H và bà Phạm Thị Thanh N 16.065.000đồng (Mười sáu triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 002834 ngày 21/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N K, thành phố C T.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi!nhận:

Cỡ chữ