vanban.org

Quyết định 108/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K thuận tình ly hôn nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thanh H - Bùi Văn K"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 108/2019/QĐST-HNGĐLạc Sơn, ngày 07 tháng 8 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 122/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019, giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Bùi Thanh H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

+ Bị đơn: Anh Bùi Văn K, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 58, khoản 1 Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 30 tháng 7 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 30 tháng 7 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K thuận tình ly hôn nhau.

2.2. Về con chung: Chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K có 02 con chung là Bùi Khánh Hà C, sinh ngày 10/12/2003 và Bùi Trọng T, sinh ngày 07/12/2009. Sau khi ly hôn, chị Bùi Thanh H nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cả 02 con chung là Bùi Khánh Hà C và Bùi Trọng T. Anh Bùi Văn K nhận nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung với chị Bùi Thanh H với mức 1.000.000 (Một triệu) đồng một tháng cho cả hai con chung (Mỗi con chung được cấp dưỡng 500.000 đồng một tháng). Việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung được thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, kể từ tháng 8 năm 2019 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Anh Bùi Văn K có quyền thăm nom con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền cấp dưỡng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2.3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K đã tự thỏa thuận và đề nghị Tòa án công nhận như sau: Tài sản chung của vợ chồng hiện tại có một ngôi nhà cấp 4, diện tích khoảng 60m2 trên thửa đất diện tích 325,3m2 tại xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nguồn gốc đất là do bố mẹ đẻ anh Bùi Văn K là ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị S cho vợ chồng anh K, chị H. Sau khi ly hôn, nhà và đất nêu trên sẽ được chuyển nhượng cho người khác. Số tiền có được sau khi chuyển nhượng nhà và đất, chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K tự nguyện tặng cho ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị S 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, tặng cho mẹ đẻ chị Bùi Thanh H là bà Bùi Thu P 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Số tiền còn lại chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K tự chia đôi mỗi người một phần hai. Trong quá trình sống ly thân, chị Bùi Thanh H và anh Bùi Văn K có nợ Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L số tiền 62.000.000 (Sáu mươi hai triệu) đồng. Số tiền nợ này anh Bùi Văn K đã tự trả xong. Khi ly hôn, chị Bùi Thanh H nhận chịu một phần nghĩa vụ trả nợ với anh Bùi Văn K; chị Bùi Thanh H sẽ trả lại cho anh Bùi Văn K 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng sau khi chuyển nhượng xong tài sản chung vợ chồng là nhà và đất nêu trên.

2.4. Về nợ chung: Không có.

2.5. Về án phí: Chị Bùi Thanh H nhận chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng và 150.000 đồng án phí dân sự về việc cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000785 ngày 02/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn; chị Bùi Thanh H đã nộp xong các khoản án phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ