- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Nguyễn Thị Cẩm T - Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh"
- Căn cứ chính? Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 215 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!! Số: 1072/2017/QĐ-PT |
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!
QUYẾT!ĐỊNH!TẠM!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!Hội!đồng!phúc!thẩm!gồm!có:!
!
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"họp: Ông Phùng Văn Hải!
Các"Thẩm"phán:
Ông Dương Tuấn Vinh!
Bà Trần Thị Kim Quy!
Thư"ký"phiên"họp: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Thy – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 205/2017/QĐST-DS ngày 01 tháng 9 năm 2017, Toà án nhân dân Quận 5 đã căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc: “Yêu"cầu"tuyên"bố"văn"bản"công"chứng"vô"hiệu”, giữa:
Nguyên"đơn:"Bà Nguyễn!Thị!Cẩm!T, sinh năm 1963.
Địa chỉ: 114 Lầu 1 Lô C1 Chung cư Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"đơn:"Phòng!Công!chứng!A,!Thành!phố!Hồ!Chí!Minh.!
Người"đại"diện"hợp"pháp"của"bị"đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1980.
(Theo Giấy uỷ quyền lập ngày 14/6/2016 tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1959.
Địa chỉ: 174 đường B, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 11/9/2017, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn kháng cáo toàn bộ Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 205/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017 của Toà án nhân dân Quận 5 với lý do: Bà đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp thừa kế đối với căn nhà 174 đường B, phường N, Quận M. Hiện vụ án này đang tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết vụ án yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà bà là nguyên đơn. Hai vụ án trên đều liên quan đến di chúc thừa kế lập ngày 07/01/2003 của bà Võ Thị H nhưng tư cách, hình thức khởi kiện và nội dung khác nhau. Bà cho rằng Toà án nhân dân Quận 5 cần phải xác định tính hợp pháp của tờ di chúc ngày 07/01/2003 của bà Võ Thị H trước để làm cơ sở cho Toà án cấp phúc thẩm xét xử vụ án tranh chấp thừa kế. Vì vậy, Toà án nhân dân Quận 5 ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án này để chờ kết quả xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp thừa kế là không hợp lý. Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Hội đồng phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm T, giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 205/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT!THẤY:!
- Về hình thức: Ngày 06/9/2017, bà Nguyễn Thị Cẩm T nhận được Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 205/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017 của Toà án nhân dân Quận 5. Ngày 11/9/2017 bà T có đơn kháng cáo toàn bộ Quyết định nêu trên, xét đơn kháng cáo của bà Tú trong hạn luật định nên hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Ông Nguyễn Quất K (1917-2009) có 04 người vợ. Vợ thứ nhất là bà Trần Thị V (1919-1976), vợ thứ hai là bà Võ Thị T (1929), vợ thứ ba là bà Trần Thị Pi (chết năm 1989), vợ thứ tư là bà Võ Thị H (chết năm 2006). Ông K và bà V có 01 người con chung là ông Nguyễn Quốc M (1939-1940). Ông K và bà T có 05 người con chung, gồm các ông (bà): Nguyễn Quốc T (1952), Nguyễn Thị Kim C (1954), Nguyễn Thị Kim H (1954), Nguyễn Quốc S (1958), Nguyễn Thị Cẩm N (1967). Ông K và bà P có 01 người con chung là bà Nguyễn Thị Ánh N (1953). Ông K và bà H có 03 người con chung, gồm các ông (bà): Nguyễn Thị Cẩm V (1957-1979, không chồng con), Nguyễn Quốc T (1959), Nguyễn Thị Cẩm T (1963). Ông Kiết, bà H là đồng sở hữu căn nhà 174 đường B, phường N, Quận M (Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3362/2001 do Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2001). Ông Nguyễn Quất K chết ngày 24/5/2009, bà Võ Thị H chết ngày 03/5/2006. Cả hai đều có lập di chúc. Di chúc ông K lập ngày 06/11/2001 tại Phòng Công chứng A có nội dung để lại phần sở hữu của ông trong căn nhà 174 đường B, Quận M cho bà Võ Thị H. Di chúc bà H lập ngày 07/01/2003 tại Phòng Công chứng A có nội dung để lại phần sở hữu của bà H trong căn nhà trên cho ông Nguyễn Quốc T. Ngày 10/12/2009 bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện các ông (bà) Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc S, Nguyễn Thị Kim C yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà nêu trên. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 71/2012/DSST ngày 27/11/2012, Toà án nhân dân Quận 1 không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị Kim H đối với căn nhà 174 đường B, phường N, Quận M và xác định di chúc của bà H là hợp pháp, di chúc của ông K có hiệu lực một phần.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các ông (bà) Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Cẩm T, Nguyễn Quốc T có đơn kháng cáo.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 526/2013/DSPT ngày 17/4/2013, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc T, huỷ bản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ cho Toà án nhân dân Quận 1 giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 267/2016/DSST ngày 29/02/2016, Toà án nhân dân Quận 1 đã xác định di chúc của bà Võ Thị H số công chứng 000604, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 07/01/2003 tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật. Di chúc của ông Nguyễn Quất K số công chứng 037404, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 06/11/2001 tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh không có hiệu lực pháp luật đồng thời giải quyết yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà 174 đường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn kháng cáo. Vụ án tranh chấp thừa kế được Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý số 192/2016/TLPT-DS ngày 28/4/2016.
Ngày 27/4/2016, bà Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện Phòng Công chứng A, yêu cầu Toà án nhân dân Quận 5 tuyên bố di chúc của bà Võ Thị H lập ngày 07/01/2003 và di chúc của ông Nguyễn Quất K lập ngày 06/11/2001 là vô hiệu.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, Toà án nhân dân Quận 5 đã ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 205/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017 với lý do cần đợi kết quả xét xử phúc thẩm của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với vụ án tranh chấp thừa kế.
Ngày 11/9/2017, bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn kháng cáo toàn bộ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án nhân dân Quận 5 và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định tạm đình chỉ nêu trên để vụ án được tiếp tục giải quyết.
Nhận thấy ông Nguyễn Quất K và bà Võ Thị H chết đều có lập di chúc định đoạt phần sở hữu của họ trong căn nhà 174 đường B, Quận M. Cả hai di chúc trên đều lập tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh, có liên quan đồng thời là căn cứ để giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế đối với căn nhà nêu trên. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 267/2016/DSST ngày 29/02/2016, Toà án nhân dân Quận 1 đã xác định di chúc của bà Võ Thị H có hiệu lực pháp luật, di chúc của ông Nguyễn Quất K không có hiệu lực pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án sơ thẩm bị kháng cáo và được Toà án nhân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Ngày 27/4/2016 bà Nguyễn Thị Cẩm T lại tiếp tục khởi kiện Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Toà án nhân dân Quận 5 tuyên bố di chúc của ông K và bà H là vô hiệu.
Xét thấy, hai vụ án tranh chấp thừa kế và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đều có liên quan đến tính hợp pháp của di chúc mà ông K và bà H lập tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh để định đoạt di sản thừa kế là căn nhà số 174 đường B, Quận M đã được xem xét tại bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận 1 và đang được thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm do có kháng cáo của đương sự. Vì vậy, Toà án nhân dân Quận 5 tạm đình chỉ giải quyết vụ án yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T và bị đơn Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do cần đợi kết quả xét xử phúc thẩm của vụ án tranh chấp thừa kế để làm căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có cơ sở, kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm T không có căn cứ nên không được chấp nhận. Vì các lẽ trên; Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 214 và các Điều 215, 219, 314 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 18, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT!ĐỊNH:!
1.! Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T. Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 205/2017/QĐST-DS ngày 01/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 5. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (Ba"trăm"nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005527 ngày 11/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.! ! ! Nơi!nhận:!
TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM!
- TAND Tối cao;
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP!
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
( Đã ký)
- TAND Quận 5;
- Chi cục THADS Quận 5;
- Các đương sự;
- Lưu.
Phùng!Văn!Hải!