vanban.org

Quyết định 107/2023/QĐPT-HC — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 27/10/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/10/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HY.

Về án phí: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Hữu T, hoàn trả cho ông T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0000280 ngày 19/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh HY. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Ông Nguyễn Hữu T - NBK: UBND huyện YM"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HY.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 107/2023/QĐPT-HCHà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Cường;

Bà Phan Thị Vân Hương.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Vũ Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Bùi Minh Nghĩa, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2020/QĐST-HC ngày 05 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh HY đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm d khoản 1 Điều 123; điểm g, h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn TB, xã TH, huyện YM, tỉnh HY; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn TB, xã TH, huyện YM, tỉnh HY; có mặt.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh HY; địa chỉ: Số 10 đường CC, HN, thành phố HY, tỉnh HY.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện YM, tỉnh HY; địa chỉ: Xã Tân Lập, huyện YM, tỉnh HY.

2. Ủy ban nhân dân xã TH, huyện YM, tỉnh HY; địa chỉ: Xã TH, huyện YM, tỉnh HY.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 11/6/2023, ông Nguyễn Hữu T kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 03/2020/QĐST-HC ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HY.

XÉT THẤY:

Tại Quyết định số 1369/QĐ-UBND ngày 11/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh HY về việc thu hồi đất tại xã TH, huyện YM để thực hiện dự án đầu tư Trường cao đẳng nghề kỹ thuật - công nghệ LOD, có nội dung: Thu hồi 61.937m2 đất, trong đó: 57.756m2 đất chuyên trồng lúa nước, 1.771m2 đất giao thông, 2.410m2 đất thủy lợi thuộc địa phận xã TH, huyện YM. Theo ông T thì diện tích đất của gia đình ông bị thu hồi theo Quyết định số 1369/QĐ-UBND.

Tại Quyết định số 4309/QĐ-UBND ngày 19/8/2008 của Ủy ban nhân dân huyện YM về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB (giai đoạn 1) dự án đầu tư Trường cao đẳng nghề kỹ thuật - công nghệ LOD.

Theo Thống kê tài sản trong khu vực GPMB Dự án thì hộ ông T có diện đất thu hồi thửa (157 + 158 + 159/1 + 135) tờ bản đồ 6 với 120m3 công vượt lập, thành tiền là 2.400.000đồng.

Tại Quyết định số 1089/QĐ-UBND ngày 18/3/2009 của Ủy ban nhân dân huyện YM về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ ông, bà chưa bàn giao đất cho Công ty cổ phần hợp tác lao động nước ngoài, trong đó có hộ ông Tích.

Ông Nguyễn Hữu T và các ông Trần Văn Đ, Trần Văn K có đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân huyện YM, nội dung: Diện tích đất ao chuôm là của 03 gia đình sử dụng từ trước năm 1960 do ông cha để lại, nay Ủy ban nhân dân huyện thu hồi không được đền bù mà chỉ hỗ trợ tiền công vượt lập, hoa màu trên đất và đề nghị xác định rõ nguồn gốc thửa đất ao chuôm mà gia đình đã kê khai, nhận đất qua các thời kỳ, khoảng năm 1984 có chính sách kê khai ao chuôm gia đình đã phải trừ ruộng cấy (ba thước ao=1 thước ruộng). Khi giao ruộng theo Nghị quyết 03 gia đình không bị trừ ruộng nữa; gia đình đã ký nhận vào tờ khai năm 1984-1995 và năm 2004.

Tại Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 06/01/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện YM về việc giải quyết đơn khiếu nại của công dân, có nội dung: Xác định các gia đình ông Nguyễn Hữu T, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn K không đủ căn cứ pháp lý để được quyền sử dụng đất đối với các thửa số 135, 157, 158, 159 tờ bản đồ số 06, diện tích = 729m2. Vì vậy, không được đền bù về đất đối với các thửa đất nêu trên. Về tài sản (tường xây) và công vượt lập do các hộ tự ý xây dựng và san lấp không đúng quy định đã được xem xét hỗ trợ theo mức tối đa. Không đồng ý với Quyết định số 14/QĐ-UBND, các ông Nguyễn Hữu T, ông Trần Văn Đ và ông Trần Văn K tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh HY.

Theo ông Tích ngày 04/3/2022, ông mới được nhận Quyết định số 1369/QĐ-UBND ngày 11/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh HY và Quyết định số 4309/QĐ-UBND ngày 19/8/2008 của Ủy ban nhân dân huyện YM; nên ngày 16/3/2023, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1369/QĐ-UBND và Quyết định số 4309/QĐ-UBND; yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh HY nâng cấp đường 376 thì bồi thường phần diện tích phải thi công và Ủy ban nhân dân huyện YM, Ủy ban nhân dân xã TH cưỡng chế đất ngày 01/4/2022 gây thiệt tổng giá trị là 255.000.000đồng thì phải bồi thường.

Xét thấy, ngày 04/3/2022 ông T nhận Quyết định số 1369/QĐ-UBND và Quyết định số 4309/QĐ-UBND. Ngày 17/3/2023, ông T nộp đơn khởi kiện đề nghị hủy 02 quyết định nêu trên và yêu cầu bồi thường nâng cấp đường 376 là đã hết thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện YM, Ủy ban nhân dân xã TH bồi thường thiệt hại tổng giá trị là 255.000.000đồng do cưỡng chế đất của gia đình ông T ngày 01/4/2022 đã được giải quyết bằng Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2023/HC-PT ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HY đã có hiệu lực. Tòa án nhân dân tỉnh HY căn cứ khoản 5 Điều 38; điểm d khoản 1 Điều 123; điểm g, h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính để ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 05/6/2023 là đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T.

Về án phí: Do ông Nguyễn Hữu T là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 03/2023/QĐST-HC ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HY.

2. Về án phí: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Hữu T, hoàn trả cho ông T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0000280 ngày 19/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh HY.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Cường

Phan Thị Vân Hương

Lê Thị Thúy Bình

Cỡ chữ