vanban.org

Quyết định 107/2023/QĐCNHGT-HNGĐ — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2024, cụ thể như sau:

Bà Đặng Thị N, ông Lê Tấn S, ông Lê Trường Giang, bà Lê Kiều Tiên, bà Lê Thảo Nguyên thống nhất quyền sử dụng đất tại thửa số 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 do hộ ông Lê Tấn S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất toạ lạc tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sàn chung sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2024, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:107/2023/QĐCNHGT-HNGĐDuyên Hải, ngày 29 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của bà Đặng Thị N và ông Lê Tấn S

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng ngày 09 tháng 10 năm 2023 của bà Đặng Thị N.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2024 về thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp giữa các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1967

Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh

- Người bị kiện: Ông Lê Tấn S, sinh năm 1962

Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Trường G, sinh năm 1987

+ Bà Lê Kiều T, sinh năm 1989

+ Bà Lê Thảo N, sinh năm 1995

Cùng địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2024, cụ thể như sau:

Bà Đặng Thị N, ông Lê Tấn S, ông Lê Trường Giang, bà Lê Kiều Tiên, bà Lê Thảo Nguyên thống nhất quyền sử dụng đất tại thửa số 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 do hộ ông Lê Tấn S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất toạ lạc tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là tài sản chung của bà Đặng Thị N và ông Lê Tấn S. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện do bà Đặng Thị N giữ.

Bà Đặng Thị N và ông Lê Tấn S thống nhất thoả thuận phân chia tài sản chung như sau:

- Bà Đặng Thị N được chia tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 186,5m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 (nhằm một phần thửa 112, tờ bản đồ số 38 biên tập lại năm 2016). Đất toạ lạc tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Kích thước, tứ cận phần đất mà bà Đặng Thị N được chia có diện tích 186,5m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 thể hiện là phần B trên Sơ đồ khu đất được ban hành kèm theo Công văn số 11/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 04/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh (Kèm theo quyết định này).

Bà Đặng Thị N được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần đất được chia có diện tích 186,5m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998. Đất tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Ông Lê Tấn S được chia tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 177,0m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 (nhằm một phần thửa 112, tờ bản đồ số 38 biên tập lại năm 2016). Đất toạ lạc tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Kích thước, tứ cận phần đất mà ông Lê Tấn S được chia có diện tích 177,0m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998 thể hiện là phần A trên Sơ đồ khu đất được ban hành kèm theo Công văn số 11/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 04/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh Kèm theo quyết định này).

Ông Lê Tấn S được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần đất được chia có diện tích 177,0m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998. Đất tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Bà Đặng Thị N có nghĩa vụ phải giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1690, tờ bản đồ số 1; đất tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh để tiến hành thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho bà Đặng Thị N và ông Lê Tấn S khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

- Đối với phần đất bị thu hồi để thực hiện dự án Đầu tư, nâng cấp các tuyến đường trên địa bàn thị xã Duyên Hải đáp ứng tiêu chí đô thị loại IV theo Quyết định số 1304/QĐ-UBND ngày 24/8/2023 của Uỷ ban nhân dân thị xã Duyên Hải có diện tích là 76,9m2 thuộc thửa 1690, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu đo đạc năm 1998; đất toạ lạc tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Do ông ông Lê Tấn S và bà Đặng Thị N chưa đồng ý giá đất bồi thường và chưa nhận tiền bồi thường đất nên ông S và bà N thống nhất như sau:

+ Bà Đặng Thị N sẽ được nhận số tiền bồi thường đất tương ứng với diện tích đất 38,45m2 trong diện tích 76,9m2 (đã bị thu hồi). Giá đất bồi thường thực hiện theo quyết định bồi thường của cơ quan có thẩm quyền.

+ Ông Lê Tấn S sẽ được nhận số tiền bồi thường đất tương ứng với diện tích đất 38,45m2 trong diện tích 76,9m2 đã bị thu hồi. Giá đất bồi thường thực hiện theo quyết định bồi thường của cơ quan có thẩm quyền.

* Về các vấn đề khác: Đối với tài sản trên đất và các khoản bồi thường, hỗ trợ khác gắn liền phần các phần đất ông S và bà N được chia thì ông S và bà N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ