- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Hồng P tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản " - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Hồng P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 1064/2022/HS-PT Ngày 12/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Ngân
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Huy
Bà Vũ Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 720/2022/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Cao Hồng P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
CAO HỒNG P, sinh năm: 2000; giới tính: Nam; ĐKNKTT và nơi ở: huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Cao Xuân I và bà Đỗ Thị X; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/6/2022 tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù tội trộm cắp tài sản; bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại tạm giam số 2 công an thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bị hại không kháng cáo tòa không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên Cao Hồng P đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn thuê xe ô tô tự lái rồi bán xe để lấy tiền. Ngày 23/4/2021, P lên mạng vào nhóm cho thuê xe thì thấy anh Quách Hoàng T (sinh năm: 1996, HKTT: Hòa Bình) đăng tin cho thuê ô tô tự lái nhãn hiệu Huyndai Grand i10. P đã liên hệ anh T để thuê xe ô tô trên, P và anh T hẹn nhau tại khu vực Thanh Trì, Hà Nội để làm thủ tục thuê xe. Sau khi gặp nhau, anh T và P thỏa thuận cho P thuê xe ô tô trong thời hạn 01 tháng từ ngày 23/4/2021 đến ngày 24/5/2021 với giá thuê xe là 12.500.000đồng/ tháng, tiếp đó, anh T lập hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái, P ký tên vào bản hợp đồng và đặt cọc cho anh T số tiền 10.000.000đồng, đồng thời thanh toán trước 01 tháng tiền thuê xe là 12.500.000đồng. Sau khi nhận tiền, anh T giao xe ô tô Huyndai Grand i10 kèm theo 01 bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Thanh H, 01 sổ kiểm định xe cơ giới (bản gốc), 01 Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới (bản gốc) cho P để tham gia giao thông.
Sau khi nhận được xe, P lên mạng xã hội để tìm thuê người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, P đã giử ảnh Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản photo anh T đã giao cho anh P trước đó) cho một đối tượng trên mạng xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) để làm giả Giấy chứng nhận đăng ký ô tô. Khoảng 02 ngày sau có một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện cho P thông báo đã làm xong Giấy chứng nhận đăng ký ô tô giả và hẹn gặp P ở khu vực Hà Đông, Hà Nội để giao đăng ký xe. Sau khi gặp nhau, P đưa cho nam thanh niên trên 2.500.000đồng và nhận được 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.
Khoảng ngày 29/4/2021, P đi đến cửa hàng mua bán xe ô tô, xe máy của anh Trần Hoàng A (sinh năm: 1999, HKTT: thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) tại Hà Đông, Hà Nội để đặt vấn đề cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10 thì anh Hoàng A yêu cầu phải chính chủ mới nhận cầm cố. P đi bộ ra quán nước gần đấy gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch), P lấy số điện thoại của người phụ nữ này sau đó lưu tên tài khoản zalo là "Nguyễn Y" rồi nhờ người phụ nữ này sẽ tự nhận là H - chủ sở hữu của chiếc xe ô tô và P trả cho người phụ nữ này 200.000đồng, người phụ nữ đồng ý. Tiếp đó P quay lại cửa hàng của anh Hoàng A để cầm cố xe thì Hoàng A bảo không đủ tiền nên không nhận cầm cố, thấy vậy P tiếp tục đặt vấn đề muốn bán xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10 trên cho anh Hoàng A nên anh Hoàng A gọi điện cho bạn là anh Lê Minh F (sinh năm: 1992, HKTT: Thanh Xuân, Hà Nội) đến. Sau khi kiểm tra xe và giấy tờ xe, anh F đồng ý mua xe trên với giá 200.000.000đồng và yêu cầu P gọi chủ xe, P sử dụng tài khoản zalo của P gọi video cho người phụ nữ trước đó Phong đã nhờ tự nhận là chủ xe thì người phụ nữ này nghe máy và tự nhận là chủ xe đồng thời đồng ý bán xe cho anh F. Anh F đồng ý mua xe và chuyển khoản cho P trước số tiền 182.000.000đồng, khi nào giấy tờ đầy đủ và xong các thủ tục sẽ chuyển nốt số tiền còn lại, sau đó, P viết giấy mua bán xe, ký, điểm chỉ, giao chiếc xe ô tô, đăng ký xe giả và các giấy tờ liên quan cho F.
Ngày 24/5/2021, thời hạn thuê xe theo hợp đồng đã hết, anh T gọi điện cho P và yêu cầu P giao lại xe nhưng P có nguyện vọng muốn tiếp tục thuê xe. Anh T kiểm tra định vị phát hiện chiếc xe ô tô đang ở Triều Khúc, Thanh Trì, Hà Nội nên đến để kiểm tra thì phát hiện chiếc xe trên P đã bán lại cho F nên anh T đã đến Công an huyện để trình báo sự việc.
Cơ quan Điều tra đã thu giữ của anh Quách Hoàng T 01 hợp đồng thuê xe tự lái giữa anh T và P (đề ngày 23/4/2021); 01 Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thanh H (bản photo); 01 hợp đồng mua bán xe ngày 19/01/2021 (bản gốc); 01 căn cước công dân mang tên Cao Hồng P (bản gốc), 01 giấy đăng ký kết hôn giữa Nguyễn Thanh H và Quách Hoàng T (bản photo); 01 giấy khai sinh Nguyễn Thanh H (bản photo); 01 chứng minh thư nhân dân của Quách Hoàng T (bản photo); 01 giấy xác nhận tạm trú Quách Hoàng T; 01 bảo hiểm xe mang tên Quách Hoàng T (bản photo); 01 Giấy biên nhận thế chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế (VIB) và Nguyễn Thanh H; 01 hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải (bản photo); 01 hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng (bản photo); Thu giữ của anh Lê Minh F 01 xe ô tô Huyndai Grand i10: 01 giấy chứng nhận xe đăng ký xe mang tên Nguyễn Thanh H (giả); 01 giấy mua bán xe viết tay đề ngày 29/4/2021; 01 sổ kiểm định xe cơ giới (bản gốc).
Ngày 23/6/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Thanh Trì - Công an huyện Thanh Trì đã yêu cầu định giá đối với chiếc xe ô tô bị chiếm đoạt của anh Quách Hoàng T. Tại bản kết luận định giá tài sản số 234/KL- HDĐGTS ngày 06/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS - UBND huyện Thanh Trì kết luận: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 có giá trị là 387.164.000đồng.
Tại kết luận giám định số khung số máy của xe ô tô Huyndai Grand i10 là nguyên thủy.
Tại bản Kết luận giám định số 7015/KLGĐ- PC09 – Đ3 ngày 30/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do anh F giao nộp là Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành thu thập hồ sơ cấp thẻ căn cước công dân của Cao Hồng P đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết, dấu vết đường vân trên 01 Giấy mua bán xe do anh F cung cấp và 01 Hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái do anh T cung cấp.
Tại bản Kết luận giám định số 8463/KLGĐ- PC09-Đ3 ngày 30/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: "02 (hai) dấu in đường vân tay nằm bên trái chữ viết Cao Hồng P trên giấy mua bán xe ngày 29/4/2021 gửi giám định và dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải trên bản sao y bản chính phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân họ và tên khai sinh: Cao Hồng P, ngày tháng năm sinh: 09/12/2000, nơi thường trú: Ứng Hòa, Hà Nội gửi làm mẫu so sánh là của cùng một người".
Tại Bản kết luận giám định số 537/KLGĐ- PC09- Đ3 ngày 15/01/2022 của Phòng kỹ thuật hính sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận.
"1. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Cao Hồng P dưới chữ ký trên 01 hợp đồng thuê xe tự lái bên cho thuê xe: Quách Hoàng T, bên thuê xe: Cao Hồng P đề ngày 23/4/2021 với chữ ký, dòng họ tên Cao Hồng P dưới chữ ký trên 01 Giấy mua bán xe người bán xe đứng tên: Cao Hồng P, người mua xe đứng tên: Lê Minh F, đề ngày 29/4/2021 là chữ do một người viết ra.
Tại Cơ quan Điều tra, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Số tiền sau khi bán được xe P đã tiêu sài cá nhân và trả nợ hết, sau khi bán xe do lo sợ nên P đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 09/02/2022, khi P đang thực hiện hành vi trộm cắp tại Thanh Xuân, Hà Nội thì bị bắt, hành vi này đã bị tòa án quận Thanh Xuân xét xử.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu đỏ cùng các giấy tờ bản chính liên quan, kết quả điều tra xác định là tài sản của anh Quách Hoàng T nên Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Thanh Trì đã trao trả lại anh T, anh T đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với người phụ nữ được P nhờ tự nhận là chị H - chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu đỏ. P khai không quen biết người phụ nữ này, sau khi bán được xe, P đã xóa tài khoản zalo và số điện thoại, P không nhớ được vị trí P gặp người phụ nữ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với đối tượng làm giả và chuyển giấy chứng nhận đăng ký xe giả cho P, P khai không quen biết, P đã xóa số điện thoại và các trang mạng liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - công an huyện Thanh Trì không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với chiếc điện thoại của P sử dụng để liên lạc thuê người làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe và liên lạc với người phụ nữ không quen biết để nhờ người này nhận là chị H, do P đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không quen biết tại Hà Đông, Hà Nội nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về dân sự: Anh T đã nhận lại xe và không yêu cầu gì về phần dân sự. Anh Lê Minh F yêu cầu P phải trả cho anh F số tiền 182.000.000đồng anh F đã thanh toán tiền mua xe cho P.
Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HSST ngày 25/8/2022 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 điểm; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Cao Hồng P 09 (chín) năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản " 01 (một) năm tù về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức". Bị cáo còn phải chấp hành 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử ngày 09/6/2022, bản án số 86 (đã có hiệu lực pháp luật). Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hợp hình phạt của hai bản án là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/02/2022 của bản án số 86 ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội.
Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Minh F số tiền 182.000.000đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2022 bị cáo Cao Hồng P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Đại diện viện kiểm sát thành phố Hà Nội có quan điểm:
Bị cáo đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe ô tô của anh Quách Hoàng T trị giá 387.164.000 đồng, sau đó làm giả giấy tờ và nhờ người đứng ra nhận là chủ xe để lừa dối bán xe ô tô trên cho anh Lê Minh F chiếm đoạt số tiền 182 triệu đồng của anh F. Như vậy bị cáo đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của cả anh T và anh F với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 569.164.000 đồng, vi phạm vào điểm a khoản 4 điều 174 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm a khoản 3 điều 174 Bộ luật hình sự là chưa chính xác. Đây là tình tiết mới tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm điều tra truy tố xét xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo Cao Hồng P trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Cao Hồng P đã có hành vi gian dối thuê xe ô tô tự lái để chiếm đoạt xe ô tô của anh Quách Hoàng T, trị giá xe là 387.164.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được xe của anh T bị cáo đã thuê người làm giả giấy tờ để bán xe cho anh Lê Minh F lấy 182 triệu đồng. Hành vi bị cáo bán xe cho anh F chỉ là hành vi tiêu thụ xe ô tô đã chiếm đoạt để lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên để tiêu thụ được xe bị cáo đã phải thuê người làm giả giấy tờ xe, hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “làm tài liệu của cơ quan tổ chức”. Như vậy tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về hai tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh T theo điểm a khoản 3 điều 174 Bộ luật hình sự và tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức theo khoản 1 điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật nhưng cần rút kinh nghiệm với tòa án sơ thẩm đã xác định tư cách tham gia tố tụng của anh Lê Minh F là bị hại là chưa chính xác, anh Lê Minh F chỉ tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Không chấp nhận đề nghị hủy bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hồng P, hội đồng xét xử thấy rằng:
Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để làm căn cứ quyết định hình phạt. Tuy nhiên hình phạt 09 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tòa án sơ thẩm đối quyết định với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm bị thành khẩn, ăn năn hối cải nên có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo tốt. Đối với tội làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, mức hình phạt là phù hợp nên cần giữ nguyên như án sơ thẩm.
Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Hồng P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 121/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 174 điểm; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Cao Hồng P 08 (tám) năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản " 01 (một) năm tù về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức". Bị cáo còn phải chấp hành 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử ngày 09/6/2022, bản án số 86 (đã có hiệu lực pháp luật). Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hợp hình phạt của hai bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/02/2022 của bản án số 86 ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội.
- Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND thành phố Hà Nội.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, Hà Nội.
- Bị cáo,
- Lưu HS, VP
Nguyễn Bích Ngân
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội. - Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ - Bị cáo. - Lưu HS, VP | THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Ngân |