vanban.org

Quyết định 106/2021/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H đối với Huỳnh Khải H (nam), sinh ngày 10/5/2007 theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND ngày 02/6/2008 của Ủy ban nhân dân phường A (Nay là phường T), quận NK. Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi ông Huỳnh Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "P, L- B,H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 106/2021/QĐST-VHNGĐNinh Kiều, ngày 25 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

(Về việc: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi)

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Yến Nhi

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên họp: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số: 244/2021/TLST-VDS ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình số: 244/2021/QĐST-VDS ngày 10 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:

1/ Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số 1040, tổ 17, khu vực x, phường H, Q. C, TP. CT.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số 1099, tổ 17, khu vực x, phường H, Q. C, TP. CT.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Huỳnh Ngọc B , sinh năm 1964

Địa chỉ: Số 919, thị trấn N, huyện Ch, tỉnh H.

2/ Bà La Xuân H , sinh năm 1963

Địa chỉ: Số 39B đường N, phường T, Q. NK, TP.CT

3/ Huỳnh Khải H, sinh ngày 10/5/2007

Đăng ký thường trú: Số 39B đường N, phường T, Q. NK, TP.CT

Chổ ở hiện nay: Số 1040, tổ 17, khu vực x, phường H, Q. C, TP. CT.

(Các đương sự có mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH:

- Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết ông Huỳnh Ngọc P và bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày: Cháu Huỳnh Khải H sinh ngày 10/5/2007 là con ruột của ông bà. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên vào năm 2008, ông bà và vợ chồng ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H đã thỏa thuận và thống nhất sẽ giao cháu H cho ông B, bà H nhận làm con nuôi. Sau khi hoàn thành các thủ tục, ngày 02/6/2008 Ủy ban nhân dân phường A ban hành quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND về việc công nhận ông B, bà H là cha, mẹ nuôi của cháu H. Tuy nhiên, từ đó đến nay do nhiều vấn đề cá nhân nên cháu H vẫn ở với vợ chồng ông bà. Ông bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Xét thấy, từ khi nhận cháu H làm con nuôi đến nay, giữa cháu H và vợ chồng ông B, bà H không phát sinh quan hệ nuôi dưỡng, không hoàn thành mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ, con lâu dài, bền vững. Đồng thời, nhằm để cháu H có thể được hưởng những quyền lợi tốt nhất để đảm bảo cháu được thuận lợi trong việc học tập, phát triển tâm sinh lý. Nay ông bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông B, bà H đối với cháu H theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND ngày 02/6/2008 của Ủy ban nhân dân phường A.

- Ông Huỳnh Ngọc B và bà La Xuân H trình bày: Ông bà thống nhất với lời trình bày của ông P và bà L về việc cháu Huỳnh Khải H sinh ngày 10/5/2007 là con ruột của ông P, bà L là em ruột của ông B. Do ông P, bà L năm 2008 có hoàn cảnh khó khăn nên ông bà có nhận cháu H làm con nuôi để cháu được nhập hộ khẩu vào gia đình ông bà để thuận tiện cho việc đi học. Ngày 02/6/2008 Ủy ban nhân dân phường A ban hành quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND về việc công nhận ông, bà là cha, mẹ nuôi của cháu H. Từ khi có quyết định đến nay cháu H vẫn sống với gia đình ông P, bà L. Giữa ông, bà và cháu không phát sinh quan hệ nuôi dưỡng và không hoàn thành mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ, con lâu dài, bền vững. Nay ông P, bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông bà đối với cháu H theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND ngày 02/6/2008 của Ủy ban nhân dân phường A thì ông bà đồng ý và cam kết không có bất kỳ tranh chấp nào.

Tại phiên họp:

- Ông P, bà L trình bày: vẫn giữ yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông B, bà H đối với cháu H.

- Ông B, bà H trình bày: Ông bà thống nhất với yêu cầu về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông bà và cháu H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật là việc tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và kết quả hỏi tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy mục đích thực sự của việc nhận nuôi con nuôi của ông B, bà H đối với cháu H là để cháu H có nơi thường trú ổn định tại phường A, quận NK để cháu được đi học ở nơi có điều kiện tốt. Mối quan hệ nuôi con nuôi của các đương sự vì việc xác lập quan hệ trái quy định pháp luật. Như vậy, việc nhận nuôi con nuôi với mục đích nêu trên là vi phạm phong tục tập quán, đạo đức truyền thống văn hóa của dân tộc theo quy định tại khoản 7 Điều 13 Luật nuôi con nuôi. Do đó, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông P, bà L. Như vậy, căn cứ khoản 7 Điều 13, khoản 4 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010 và khoản 5 Điều 29, Điều 361 và Điệu 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông P, bà L về việc tuyên bố chấm dứt nuôi con nuôi giữa ông B, bà H đối với cháu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là việc hôn nhân gia đình về việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi giữa người yêu cầu là ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L đối với ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H hiện sống tại số 39B đường N, phường T, Q. NK, TP.CT. Việc hôn nhân và gia đình này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận NK, thành phố CT theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Năm 2008 ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H thỏa thuận với ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L về việc nhận cháu Huỳnh Khải H sinh ngày 10/5/2007 làm con nuôi. Việc nhận con nuôi đã được đăng ký theo quy định pháp luật tại thời điểm nhận con nuôi và được Ủy ban nhân dân phường A công nhận ngày 02/6/2008 theo quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND. Tuy nhiên, theo các đương sự trình bày thì từ khi nhận cháu H làm con nuôi phía ông B, bà H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nhận con nuôi theo quy định của pháp luật. Việc ông B, bà Hnhận cháu H làm con nuôi để cháu được nhập hộ khẩu vào gia đình ông bà để thuận tiện cho việc đi học. Nhưng thực tế việc chăm sóc, nuôi dưỡng, việc học tập, điều kiện sinh hoạt phát triển của cháu H là do cha, mẹ đẻ là ông P, bà L lo. Giữa cháu H và ông B, bà H không phát sinh quan hệ nuôi dưỡng, không hoàn thành mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ, con nuôi và không phù hợp pháp luật. Do đó, quan hệ nuôi con nuôi giữa ông B, bà Hvới cháu H vi phạm điều cấm theo quy định tại khoản 7 Điều 13 Luật nuôi con nuôi.

Vì vậy, để cháu H được hưởng những quyền lợi tốt nhất trong mối quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ, nhằm đảm bảo cho cháu được thuận lợi trong việc học tập và các điều kiện sinh hoạt và phát triển tâm sinh lý nên việc tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông B, bà H với cháu H là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 25, khoản 3 Điều 26 Luật nuôi con nuôi năm 2010. Do đó, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông P, bà L là có cơ sở chấp nhận.

Do đó, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Về lệ phí: Người yêu cầu phải chịu 300.000 đồng lệ phí nhưng ông bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điệu 367, Điều 369, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 78 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 10, khoản 7 Điều 13, khoản 4 Điều 25, khoản 3 Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010.

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015.

- Căn cứ 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

2. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H đối với Huỳnh Khải H (nam), sinh ngày 10/5/2007 theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 80/QĐ-UBND ngày 02/6/2008 của Ủy ban nhân dân phường A (Nay là phường T), quận NK.

- Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi ông Huỳnh Ngọc B, bà La Xuân H đối với Huỳnh Khải H (nam), sinh ngày 10/5/2007 chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật.

- Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ là ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L và con đẻ Huỳnh Khải H được khôi phục từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình: Ông Huỳnh Ngọc P, bà Nguyễn Thị Thúy L chịu 300.000 đồng lệ phí nhưng ông bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp số 003954 ngày 28/4/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận NK, TP. CT. Ông bà đã nộp xong lệ phí.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ