vanban.org

Quyết định 106/2019/QĐ-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Vể con cái: Anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thống nhất trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, cháu tên là Trần Viết Hải Đ; sinh ngày 16/07/2011 hiện tại cháu đang ở cùng với anh Trần Viết Th tại thôn 7, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Viết Th xin ly hôn với Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM X
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 106/2019/ QĐST-HNGĐCẩm X, ngày 19 tháng 08 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 127/2019/TLST /HNGĐ ngày 5 tháng 8 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Viết Th; sinh tháng 7 năm 1981

Trú quán: Thôn 7, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị H; sinh ngày 10/8/1989 Trú quán: Thôn 7, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào khoản 3, 4 điều 147, điều 212 và điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 điều 51, điều 53; điều 54; điều 55; điều 57; điều 81, điều 82; điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a, khoản 1 điều 24, khoản 7, điều 26; điểm a khoản 5, điều 27 nghị quyết 326/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí của Tòa án.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 08 năm 2019 về việc các đương sự đã thật sự tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 127 /2019/TLST - HNGĐ ngày 05/08/ 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 08 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

-Vể con cái: Anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thống nhất trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, cháu tên là Trần Viết Hải Đ; sinh ngày 16/07/2011 hiện tại cháu đang ở cùng với anh Trần Viết Th tại thôn 7, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

Ghi nhận anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thỏa thuận thống nhất việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như sau:

Giao cháu Trần Viết Hải Đ; sinh ngày 16/07/2011 cho anh Trần Viết Th trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu đến khi trưởng thành (cháu tròn 18 tuổi, hoặc có khả năng lao động) anh Trần Viết Th không yêu cầu chị Lê Thị H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị H có quyền đi lại chăm sóc con chung không bên nào có quyền cản trở, ngăn cấm.

- Về tài sản: Anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thỏa thuận thống nhất trong quá trình chung sống vợ chồng chưa tạo lập được tài sản chung.

- Về nợ: Anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thỏa thuận thống nhất trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

- Về án phí: Anh Trần Viết Th và chị Lê Thị H thỏa thuận thống nhất anh Trần Viết Th chịu nộp 150.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ trong 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà anh Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai thu tiền số 0003339 ngày 5/08/2019 trả lại anh Trần Viết Th 150.000 đ mà anh Thân đã nộp.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ