- Tranh chấp gì? án hành chính — "OANH - UBND TP SÓC TRĂNG"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Thu O.
- Căn cứ chính? Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1042/2023/QĐPT-HC | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Nguyễn Văn Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Út, Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa
án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
07/2022/QĐST-HC, ngày 14/7/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143, Điều 144 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 08/2021/TLST-HC ngày 07/4/2021, về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại”; giữa:
- Người khởi kiện: Bà Lâm Thu O, sinh năm 1964; Địa chỉ cư trú: A H,
Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ trụ
sở: I P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lâm Thu H, sinh năm 1955; Địa chỉ cư trú: 4855-107 S, E, B, Hoa
Kỳ;
2. Bà Lâm Thu V, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: 4844 T, thành phố K, B,
Hoa Kỳ;
3. Ông Đỗ Công H1;
4. Bà Đỗ Thị L;
Cùng địa chỉ cư trú: A T, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
5. Bà Quách Mỹ K, sinh năm 1943;
6. Ông Lý Thanh K1, sinh năm 1967;
7. Ông Lý Minh S, sinh năm 1968;
8. Ông Lý Minh Q, sinh năm 1975;
9. Ông Lý Minh Đ, sinh năm 1978;
10. Ông Lý Minh H2, sinh năm 1971;
11. Ông Lý Minh P, sinh năm 1988;
12. Ông Lý Minh T, sinh năm 1997;
13. Bà Lý Tú K2, sinh năm 1971;
14. Bà Lý Tú P1, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ cư trú: A Đ, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Lý do đình chỉ mà Toà án cấp sơ thẩm đưa ra là đã hết thời hiệu khởi kiện.
Tại đơn kháng cáo ngày 24/7/2022, bà Lâm Thu O đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm hủy quyết định sơ thẩm.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Lâm Thu O làm trong hạn luật
định và đã nộp tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà O, nhận thấy:
Việc tranh chấp “Đòi lại nhà cho thuê” giữa ông Lâm P2 (cha ruột của
bà Lâm Thu O) và ông Lý H3 (liên quan đến thửa đất số 17, tờ bản đồ số 36, tại đường Đ, khóm C, Phường F, thành phố S) đã được Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bằng Bản án số 18/2013/DS-ST ngày 18/12/2013 và Bản án số 65/2014/DS-PT ngày 27/3/2014. Trên cơ sở bản án phúc thẩm đã có hiệu lực, UBND thành phố S đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 093420 cho ông Lý H3 và bà Quách Mỹ K vào ngày 07/11/2014.
Sau khi hai bản án nêu trên bị huỷ bởi Quyết định giám đốc thẩm số
27/2017/DS-GĐT ngày 26/7/2017 của Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng thụ lý lại vụ án và xét xử bằng Bản án số 60/2018/DS-ST ngày 05/11/2018. Trong quá trình giải quyết lại vụ án, bà O tham gia tố tụng với tư cách là một trong những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông P2 và bà O đã biết ông H3 và bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 07/11/2014.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 26/4/2021, ông Lê Thành T1 là chồng
và là người đại diện hợp pháp của bà O xác định trong quá trình giải quyết vụ án theo Bản án số 60/2028/DS-ST, bà O đã biết việc ông H3 và bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 07/11/2014.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Toà án cấp sơ thẩm quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án do thời hiệu khởi kiện đã hết là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, kháng cáo của bà O là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà O phải nộp 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
năm 2015,
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Thu O.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
07/2022/QĐST-HC, ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
[2] Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lâm Thu O phải nộp 300.000 (ba
trăm ngàn) đồng. Được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 2443 ngày 05/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Bà O đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
[3] Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC TP. HCM; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM.HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Văn Khoa |