vanban.org

Quyết định 104/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 07/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thị S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 12 ( Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi bốn ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Nguyễn Thị S cho Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Sim - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thị S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 104 / 2024/HSST
Ngày 07/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bµ §inh ThÞ Ngäc Hµ

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga.

Ông Phạm Quốc Trung.

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Thương.

- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nhân dân Thành phố Hòa Bình tham gia phiªn toµ: ông Đinh Việt Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 8 năm 2024, t¹i trụ sở Tßa ¸n nh©n d©n Thµnh phè Hßa B×nh, tØnh Hoµ B×nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thô lý sè: 93/2024 /HSST ngày 18 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/ 2024, ngày 25 tháng 07 năm 2024 ®èi víi bÞ c¸o : Nguyễn Thị S sinh ngày 15/4/1994.Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nữ. Nơi thường trú và chỗ ở: Xóm Trại Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. D©n téc : Kinh - Quèc tÞch : ViÖt Nam. T«n gi¸o : kh«ng Tr×nh ®é học vấn : 12/12; NghÒ nghiÖp: Lao ®éng tù do; Căn cước công dân số: 036194015397. Nơi cấp : Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Con ông: Nguyễn Văn Đ ( đã chết). Con bà : Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Xóm Trại Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 chị em. Có chồng là : Phạm Tuấn A, sinh năm 1991. Có hai con là Phạm Anh Ph sinh năm 2021; Phạm Anh Đức sinh năm 2023. Hiện ở tại: Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, TP.Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Tiền án: không. Tiền sự : không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Bà Đinh Thị D, sinh năm 1951. Địa chỉ : Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.Có mặt.

Néi dung vô ¸n :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị S cùng chồng thuê nhà ở tại tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung

Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để buôn bán hàng ăn. Quá trình sinh sống tại đây, S có quen biết và thường xuyên qua lại, đến chơi với gia đình bà Đinh Thị D là hàng xóm ở cạnh nhà thuê của S.Tối ngày 13/12/2023, biết bà D cùng các con không có ở nhà, S nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà D để trộm cắp tài sản. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, S đi ra sau vườn nhà, trèo qua tường sang vườn nhà bà D. Thấy cửa bếp nhà bà D đang mở, S lẻn qua bếp để đi vào trong nhà. Quan sát thấy chồng bà D là ông Nguyễn Văn Đ (SN 1954; trú tại: tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) đang đóng cửa phòng khách để xem ti vi, S đi thẳng vào phòng ngủ của bà D tìm kiếm tài sản. Tại đây, S phát hiện thấy 01 chiếc hòm tôn có khóa ngoài, S bỏ hết đồ đạc trên nắp hòm sang bên cạnh, bê hòm tôn ra khỏi phòng ngủ, đi ra vườn nhà bà D qua lối cửa bếp, trèo qua tường nhà bà D đi về phía bãi đất trống sau nhà S. Quan sát xung quanh không có ai, S đặt hòm tôn xuống đất, dùng tay giật phá khóa mở được nắp hòm tôn. S kiểm tra thấy bên trong có một số giấy tờ, đồ đạc, 01 sợi dây chuyền vàng, 02 nhẫn vàng cùng một số hộp nhựa nhỏ, túi vải đỏ dùng để đựng vàng. S để hòm tôn lại, lấy 02 chiếc túi nilon ở trong hòm, bỏ tất cả đồ đạc, giấy tờ cùng dây truyền và nhẫn vàng vào túi nilon cất giấu sát tường phía sau nhà S, sau đó Sim đi về nhà.

Khi bà D về nhà, phát hiện bị kẻ gian đột nhập trộm cắp 01 con lợn đất bên

trong có 4.000.000 đồng; 01 hòm tôn bên trong có nhiều giấy tờ, đồ đạc, và vàng. Ngày 14/12/2023, bà D đã đến Công an phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để trình báo về nội dung sự việc.

Đến ngày 16/12/2023, sau khi nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của

mình là vi phạm pháp luật, Nguyễn Thị S đã đến Công an phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đầu thú và giao nộp tài sản đã trộm cắp được cho Cơ quan Công an. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình, kết luận:

“- 01 dây chuyền kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), hàm lượng

vàng: 99,99%, khối lượng: 9,8g, hình dạng mắt xích, chiều dài: 43cm kèm theo 01 giấy đảm bảo tuổi vàng của “Vàng bạc Nam Chính”, trọng lượng 2,615 chỉ, vàng 9999 trị giá 16.182.000 đồng;

- 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 5,62g, hàm lượng vàng: 99,98%, hàm lượng bạc (Ag): 0,01g, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi “NAMCHINH 9999 1,5C” trị giá 9.300.000 đồng;

- 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 3,75g, hàm lượng vàng: 99,82%, hàm lượng bạc (Ag): 0,17g, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi “NAMCHINH 9999 1C” trị giá 6.200.000 đồng;

- 01 túi vải màu đỏ, kích thước: 10x8(cm), mặt ngoài có ghi “Công ty vàng bạc Nam Chính - Giữ tín nhiệm hơn giữ vàng”; 01 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 4x4,5x2,75(cm); 02 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 3,5x3,2x2(cm) tình trạng đều đã qua sử dụng trị giá 5.000 đồng;

- 01 hộp kim loại (hòm tôn), màu xám - bạc, kích thước: 55x35x20(cm), có tay xách, móc khóa giữa phần nắp và thân hộp, vị trí móc khóa bị cong vênh, móp méo, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 65.000 đồng;

- 01 hộp kim loại, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng, là hộp bánh nhãn hiệu Orion Goute, kích thước: 35x20x10(cm), tình trạng đã qua sử dụng trị giá 10.000 đồng;

- 01 ổ khóa bằng kim loại, nhãn hiệu “Việt Tiệp”, thân khóa đen, móc khóa

màu bạc, kích thước khoảng: 5x4(cm), tình trạng đã qua sử dụng trị giá 20.000 đồng;

- 01 “con lợn đất để tiền tiết kiệm” làm bằng thạch cao, màu vàng, kích thước khoảng: 50x15x15(cm), tình trạng nguyên vẹn, đã qua sử dụng trị giá 50.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp tài sản là 31.832.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Đối với các đồ vật, tài sản trong hòm tôn thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đinh Thị D, gồm:

+ 01 hòm kim loại (tôn), màu xám-bạc, kích thước: 55x35x20(cm), có tay xách, móc khóa giữa phần nắp và thân hộp, vị trí móc khóa bị cong vênh, móp méo, tình trạng đã qua sử dụng;

+ 01 dây chuyền kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), hàm lượng

vàng: 99,99%, khối lượng: 9,80(g), hình dạng mắt xích, chiều dài: 43cm; Kèm theo 01 Giấy đảm bảo tuổi vàng của “Vàng bạc Nam Chính”, trọng lượng: 2,615 chỉ, tuổi vàng: 9999;

+ 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng:

5,62(g), hàm lượng vàng: 99,98%, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi: “ NAMCHINH 9999 1,5C”;

+ 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng:

3,75(g), hàm lượng vàng: 99,82%, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi: “ NAMCHINH 9999 1C”;

+ 01 túi vải màu đỏ, kích thước: 10x8(cm), mặt ngoài có ghi: “Công ty vàng

bạc Nam Chính - Giữ tín nhiệm hơn giữ vàng”; 01 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 4x4,5x2,75(cm); 02 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 3,5x3,2x2(cm); tình trạng đều đã qua sử dụng;

+ 01 hộp kim loại, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng, là hộp bánh nhãn hiệu Orion Goute, kích thước: 35x20x10(cm), tình trạng đã qua sử dụng;

+ 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam

(AgriBank) số AC 00036540615, phát hành ngày 16/6/2023, tên khách hàng: Đinh Thị D;

+ 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam

(AgriBank) số AC 00036543425, phát hành ngày 11/7/2023, tên khách hàng: Đinh Thị D;

+ 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam

(AgriBank) số AC 00033210019, phát hành ngày 05/12/2023, tên khách hàng: Nguyễn Văn H;

+ 01 sổ giao đất, giao rừng số 125 do UBND huyện Kỳ Sơn cấp ngày

01/4/1989 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, đội sản xuất số 6, xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;

+ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 222866 do UBND huyện Kỳ Sơn cấp ngày 12/11/2008 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ; thửa đất số 232, tờ bản đồ số 38, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;

+ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 622961 do UBND huyện Kỳ

Sơn cấp ngày 07/10/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ; thửa đất số 23-35, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;

+ 01 quyển vở, bìa màu hồng, nhãn hiệu Hồng Hà, tại trang giữa có viết 01

Hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 28/11/2019, nội dung chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Thanh S và ông Nguyễn Anh T cho ông Nguyễn Văn H; ngoài ra không có nội dung gì khác;

+ 01 giấy kỷ niệm chương do Hội người cao tuổi Việt Nam cấp cho bà Đinh

Thị D ngày 26/5/2020;

+ 01 giấy chứng nhận do Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Kỳ Sơn cấp

ngày 20/8/1998 cho bà Đinh Thị D;

+ 01 giấy chứng nhận do Đảng bộ huyện Kỳ Sơn cấp ngày 20/11/2005 cho bà Đinh Thị D;

+ 01 giấy chứng nhận do Giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Kỳ

Sơn cấp ngày 20/10/2003 cho bà Đinh Thị D;

+ 01 hộ chiếu số C3688096 do Cục QLXNC - Bộ Công an cấp ngày 14/9/2017 của bà Đinh Thị D;

+ 01 thẻ đảng viên số 10.023043 do Đảng bộ tỉnh Hòa Bình cấp ngày

02/9/2004 cho bà Đinh Thị D;

+ 01 thẻ đảng viên số 2870282 do Tỉnh ủy tỉnh Hòa Bình cấp ngày 19/5/1997 cho bà Đinh Thị D;

+ 01 thẻ hội viên Hội nông dân Việt Nam của bà Đinh Thị D;

+ 17 biên lai thu thuế nhà, đất của hộ ông Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh;

+ 01 giấy chứng nhận Huy chương kháng chiến hạng Nhì cấp cho gia đình ông Nguyễn Văn Đ;

+ 01 sổ hướng dẫn hệ thống canh tác của hộ ông Nguyễn Văn Đ, đội sản xuất số 6, HTX Trung Minh;

+ Một số túi nilon (màu đen, đỏ,...), vỏ hộp nhựa, bìa cát-tông cũ đã qua sử

dụng;

- Đối với chiếc ổ khóa khóa hòm tôn và con lợn đất bên trong có khoảng

4.000.000 đồng; hiện chưa xác định được đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đinh Thị D đã nhận lại các tài sản bị trộm cắp. Bà D không đề nghị, yêu cầu Nguyễn Thị S phải bồi thường dân sự nên không đề cập giải quyết.

Vật chứng vụ án: Toàn bộ các đồ vật, tài sản trong hòm tôn thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đinh Thị D, bà D đã nhận đầy đủ.

B¶n c¸o tr¹ng sè 95/ CT-VKSTPHB ngµy 16/7/2024 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n Thµnh phè Hßa B×nh truy tè bị c¸o Nguyễn Thị S về téi: “Trém c¾p tµi s¶n” theo kho¶n 1 ®iÒu 173 BLHS năm 2015.

T¹i phiªn tßa KiÓm s¸t viªn thùc hµnh quyÒn c«ng tè ®Ò nghÞ H§XX ¸p dông kho¶n 1 §iÒu 173, ®iểm i,s kho¶n 1 điều 51, điều 52, Điều 38, điều 65 BLHS năm 2015 xö ph¹t Nguyễn Thị S mức án tõ 12 ®Õn 15 th¸ng tï cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.

Ngoài ra bị cáo còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đó tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra công an thành phố Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng, do vậy các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Do không có công ăn việc làm, không có thu thập, để có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 13/12/2023, Nguyễn Thị S đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của gia đình bà Đinh Thị D là hàng xóm tổng giá trị tài sản bị trộm cắp tài sản là 31.832.000 đồng ( Ba mươi mốt triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bản thân bị cáo không có công việc ổn định một mình nuôi hai con nhỏ, người bị hại bà Đinh Thị D có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, đang nuôi con nhỏ, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự: bà Đinh Thị D đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường gì. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65. Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phía Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thị S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 12 ( Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi bốn ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Nguyễn Thị S cho Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh HB;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh HB;

- VKSND thành phố HB;

- Công an thành phố HB;

- Thi hành án hình sự TPHB;

- Chi cục THA DS TPHB;

- Sở Tư pháp tỉnh HB;

- Người tham gia tố tụng;

Đinh Thị Ngọc Hà

- UBND xã Hồng Quang.

- Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh HB;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh HB;

- VKSND thành phố HB;

- Công an thành phố HB;

- Thi hành án hình sự TPHB;

- Chi cục THA DS TPHB;

- Sở Tư pháp tỉnh HB;

- Người tham gia tố tụng;

Đinh Thị Ngọc Hà

- UBND xã Hồng Quang.

- Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N¬i nhËn:

tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND tØnh Hoµ B×nh;Së t ph¸p

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND TP Hßa B×nh;

- Chi côc THADS TP Hßa B×nh;

- CATP Hßa B×nh;

- BÞ c¸o;Người bị hại. TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HOÀ BÌNH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 07 tháng 8 năm 2024

Tại phòng nghị án- Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung.

Bà Phạm Thị Nga.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với : Nguyễn Thị Sim sinh ngày 15/4/1994.Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nữ. Nơi thường trú và chỗ ở: Xóm Trại Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Căn cứ điều 299 và điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được xem xét tại phiên toà; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1- Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2- Về tội danh: Trộm cắp tài sản

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự ; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự ; Kết quả biểu quyết: 3/3

3- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Sim 12 ( Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi bốn ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Nguyễn Thị Sim cho Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự Kết quả biểu quyết: 3/3

4/ VÒ ¸n phÝ : Điều 135; Điều 136; Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: bÞ c¸o ph¶i nép 200.000® ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm

Kết quả biểu quyết: 3/3

5/Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm bÞ c¸o, ng êi bÞ h¹i có quyền kháng cáo theo luật định, Trường hợp vắng mặt thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, ngày 07 tháng 8 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tßa ¸n nh©n d©n

céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt nam thµnh phè hßa b×nh

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc TØnh Hßa B×nh Số: 61 /HSST-QĐTG

TP Hòa Bình, ngày 06 tháng 9 năm 2022

quyÕt ®Þnh t¹m giam

tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè hßa b×nh

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung.

Bà Ngô Thị Như Hoa.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 239 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 06 tháng 9 năm 2022 của hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

quyÕt ®Þnh:

Điều 1:

Tạm giam bị cáo: Lê Quang Tùng sinh năm 1993.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Khu Đồn Điền, xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 (chín ) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/9/2022

Điều 2:

Trại tạm giam Công an tỉnh Hßa B×nh cã tr¸ch nhiÖm thi hµnh QuyÕt ®Þnh nµy.

Cỡ chữ