vanban.org

Quyết định 1033/2024/QĐPT-DS — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 16/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Hoài T2.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 273/2024/QĐST-DS ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Hoài T2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1033/2024/QĐPT-DSThành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Võ Văn Khoa

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Ông Phạm Văn Công

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

273/2024/QĐST-DS ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà”, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1981; Địa chỉ: A W, C,

PE CIA 3R2, Canada.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983; Địa chỉ:

Căn hộ A, chung cư F Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 17/9/2019).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1956; Địa chỉ: B H, Phường B,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1994; Địa

chỉ: D T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 28/10/2021).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đỗ Hoài T2, sinh năm 1969

2. Bà Lê Thị Mỹ Q, sinh năm 1995

Cùng địa chỉ: 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ông Vũ Văn T3, sinh năm 1980; Địa chỉ: A W, P, Canada.

Lý do đình chỉ mà quyết định sơ thẩm đưa ra là ông Nguyễn Văn T1 là

người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Ngọc T; bà Nguyễn Thị Kim C là người đại diện hợp pháp của bị đơn - bà Nguyễn Thị V; ông Đỗ Hoài T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại đơn kháng cáo ngày 17/6/2024, ông T2 đề nghị Toà án cấp phúc thẩm

huỷ quyết định sơ thẩm. Lí do, ngày 15/4/2024 ông bị sốt cao phải điều trị tại nhà nên không thể tham gia phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải.

Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông T2 làm

trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự theo biên lai thu số 5524 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh nên đủ điều kiện để thụ lý và xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của ông T2, nhận thấy:

Bà T tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bà V tham gia tố

tụng với tư cách là bị đơn và ông T2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Tại các giấy ủy quyền ngày 17/9/2019, ngày 28/12/2020 và

28/10/2021 (các bút lục 52-53, 236-238) thể hiện bà T uỷ quyền cho ông T1, bà V uỷ quyền cho bà C tham gia tố tụng.

Tại các bút lục số 298-302 thể hiện Toà án cấp sơ thẩm đã tống đạt

hợp lệ giấy triệu tập các ông bà T1, C và T2 tham gia phiên họp ngày 08/4/2024; tại các bút lục số 303-307 thể hiện Toà án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ các ông bà nêu trên tham gia phiên họp ngày 08/5/2024. Tuy nhiên cả hai lần triệu tập các ông bà này đều vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, kháng cáo của ông T2 là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ

nguyên quyết định sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T2 phải nộp án phí dân sự phúc

thẩm theo luật định.

Căn cứ vào điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Hoài T2.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

273/2024/QĐST-DS ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Hoài T2 phải nộp 300.000 (ba

trăm ngàn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 5524 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (do bà Đỗ Hoài Anh T4 nộp thay). Ông T2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

[3] Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành.

Cỡ chữ