- Tranh chấp gì? "Phạm Thanh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thanh T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp CH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 103 /QĐ-TA | Châu Đốc, ngày 07 tháng 8 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Bích Thủy.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Ngày 07 tháng 8 năm 2018, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 108/QĐ-TA ngày 30 tháng 7 năm 2018 về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với:
Phạm Thanh T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 17, ấp CH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG.
Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.
Trình độ văn hóa: 7/12.
Nghề nghiệp: Làm Thuê.
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Phật
Tiền án:
- Ngày 12/11/2004 bị Tòa án nhân dân huyện CP xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành tại Trại Giam Công an tỉnh AG, đến ngày 28/02/2005 chấp hành xong.
- Ngày 26/09/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã CĐ, tỉnh An Giang xử phạt tù có thời hạn 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành tại Trại Giam CL, đến năm 2006 chấp hành xong.
- Ngày 16/12/2006 bị Công an thành phố LX, tỉnh AG bắt về tội “Trộm cắp tài sản”, bị tuyên phạt 27 tháng tù giam, chấp hành tại Trại Giam Kênh 5, đến năm 2009 được tha về.
- Ngày 15/7/2009 bị Công an huyện CT, tỉnh AG bắt về tội “Trộm cắp tài sản”, bị tạm giam 02 tháng (theo lời khai của Phạm Thanh T) sau đó được trả tự do.
Tiền sự:
- Ngày 21/01/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố LX ra quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn chấp hành là 24 tháng, đã chấp hành xong;
- Ngày 05/02/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố LX ra quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn chấp hành là 24 tháng, đã chấp hành xong.
- Ngày 01/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố LX ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành 15 tháng, đã chấp hành xong ngày 15/7/2017.
Con ông Phạm Văn L và bà Lâm Thị Kim Ng (mất).
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Châu Đốc có ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ là đại diện theo ủy quyền; có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên; có mặt.
NHẬN THẤY:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02 tháng 6 năm 2018, Phạm Thanh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực vắng người. Đến ngày 03 tháng 6 năm 2018 Phạm Thanh T bị Công an nhân dân phường NS mời làm việc và đưa đi xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính với chất Morphin và Methamphetamin. Đồng thời, Công an phường NS lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T.
Ngày 03/6/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường NS ban hành Quyết định số 222/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện đối với T.
Ngày 03/6/2018, Ủy ban nhân dân phường NS ban hành Thông báo số 111/TB-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang đối với T.
Ngày 03/6/2018, Công an phường NS ban hành Thông báo số 185/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Qua kết quả xác minh ngày 12/6/2018 và ngày 18/6/2018 T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: ấp CH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG, nhưng từ trước đến nay T không thường xuyên sinh sống và cư trú từ năm 2014 đến nay và cũng không đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm ĐT4, phường MP, thành phố LX và khóm CQ, phường CP B, thành phố CĐ.
Thông báo số 91/TB - PTP ngày 10/7/2018, Phòng Tư pháp thành phố CĐ đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 23/7/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Châu Đốc ban hành văn bản số 90/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thanh T với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp,
- Ý kiến của đại diện phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Châu Đốc giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Ý kiến của Phạm Thanh T: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án, từ khi thụ lý đến thời điểm này, Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17, 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.
+ Về điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T đã thành niên, không có nơi cư trú ổn định và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chấp hành xong ngày 15/7/2017 mà vẫn tái nghiện nên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Châu đốc đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Vì vậy, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thanh T.
XÉT THẤY:
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Châu Đốc đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
Người bị đề nghị Phạm Thanh T khai nhận vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/6/2018, có sử dụng ma túy nên bị Công an phường NS đưa đi xét nghiệm, kết quả dương tính và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Qua kết quả xác minh ngày 12/6/2018 và ngày 18/6/2018 T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: ấp CH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG, nhưng từ trước đến nay T không thường xuyên sinh sống, cư trú từ năm 2014, ngoài ra cũng không đăng ký hộ khẩu thường trú, cư trú tại khóm ĐT4, phường MP, thành phố LX và khóm CQ, phường CP B, thành phố CĐ.
Lời khai nhận của T tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, lời khai của T trước khi phiên họp được mở, biên bản vi phạm hành chính do Công an phường NS lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.
Xét, T trên 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Châu Đốc đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, năm 2016 T đã bị Tòa án nhân dân thành phố LX áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chấp hành xong ngày 15/7/2017, nhưng không sửa chữa lại tái nghiện là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Về tình tiết giảm nhẹ, T có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thanh T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp CH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG.
Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc (ngày 03 tháng 6 năm 2018).
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố CĐ và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố CĐ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Phạm Thanh T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố CĐ chủ trì phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố CĐ đưa Phạm Thanh T vào Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh AG.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị áp dụng; - Phòng LĐ-TB và Xã hội thành phố; - Ủy ban nhân dân phường NS; - Công an nhân dân phường NS; - Ủy ban nhân dân xã Bình Long; - Cơ Sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CAND TP; - Công an nhân dân thành phố; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Thị Bích Thủy |