- Tranh chấp gì? "ông Nguyễn Văn N kiện Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N; chấp nhận việc rút kháng nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao rút toàn bộ Kháng nghị số 4507/QĐ-VKS-HC ngày 02/6/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 103/2024/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: ông Hà Văn Hừng – kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 709/2023/QĐST-HC ngày 17 tháng 5 năm 2023.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã căn cứ vào: Điều 3, điểm c khoản 1 Điều 30, khoản 5 Điều 38; điểm đ khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 204, Điều 211 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai” giữa:
Người khởi kiện: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976; cư trú tại: 4 K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1960; cư trú tại: A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Thị Ngọc D1 – Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Lê Minh H – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Phương T, sinh năm 1984; cư trú tại: D K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 13/6/2023 của người khởi kiện ông Nguyễn Văn N và Quyết định kháng nghị số 4507/QĐ-VKS-HC ngày 02/6/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, trả hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân xét xử lại theo quy định với lý do Văn bản số 824/UBND là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính vì nội dung văn bản này ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn N nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân quận B nhận thấy việc cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Phương T tại thửa đất số 524, tờ bản đồ số 61 (TL2005), phường A, quận B, số D K và 11 hộ dân khác là chưa đúng pháp luật nên ngày 20/3/2020, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Văn bản số 824/UBND về việc ngăn chặn việc đăng ký, chuyển quyền sử dụng đất đối với 12 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân; theo đó, đề nghị Sở Tư Pháp, Trung tâm Thông tin Công chứng, Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H, Phòng Q ngăn chặn việc đăng ký, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
[2] Nội dung văn bản này chỉ mang tính chất nội bộ, chỉ đạo điều hành mà chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của ông N nên không phải là đối tượng khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của ông N là có căn cứ.
Đối với các Thông báo số 2073/TB-UBND ngày 18/9/2020, Văn bản số 3859/UBND ngày 18/01/2020 và Văn bản 2035/UBND đều của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B có nội dung thông báo cho ông N về việc: không thụ lý khiếu nại của ông đối với việc ông khiếu nại Công văn 824/UBND do hết thời hiệu khiếu nại thì đây là Quyết định hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 và có ảnh hưởng đến quyền khiếu nại của ông N; nhưng cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của ông N với lý do đây không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là không đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Văn bản 824/UBND chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của ông N nên ông N cũng không có quyền khởi kiện, quyền khiếu nại đối với Văn bản 824/UBND; do đó, việc đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của Tòa án cấp sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N nên không cần thiết phải hủy quyết đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của ông N để thụ lý giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã rút lại toàn bộ Quyết định kháng nghị số 4507/QĐ-VKS-HC ngày 02/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vì ngày 12/7/2023, Ủy ban nhân dân quận B đã ban hành Quyết định số 2907/UBND về việc thu hồi Văn bản số 824/UBND.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, chấp nhận việc rút kháng nghị của đại diện Viện kiểm sát; giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 243 Luật tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn N; chấp nhận việc rút kháng nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao rút toàn bộ Kháng nghị số 4507/QĐ-VKS-HC ngày 02/6/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 709/2023/QĐ-ST ngày17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí hành chính phúc thẩm ông Nguyễn Văn N phải nộp 300.000đ
nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0001683 ngày 30/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
| Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Thị Thúy Hòa | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |