vanban.org

Quyết định 102/2023/QĐ-TA

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/09/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mƣời bốn) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trọng D bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 102/2023/QĐ-TA
D, ngày 18 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyên.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hƣơng Giang.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 103/2023/QĐ-TA ngày 11 tháng 9 năm 2023, đối với:

Nguyễn Trọng D, sinh năm 1984; nơi đăng ký thƣờng trú: đƣờng S, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: không nơi cƣ trú nhất định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: làm thuê; tiền án, tiền sự: đƣơng sự khai năm 2016 bị Tòa án thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; con ông Nguyễn Trọng L và bà Trịnh Thị B.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Thu Ngân - Chuyên viên Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng (Văn bản ủy quyền số 237/PLĐTBXH-PCTNXH ngày 15/9/2023).

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương: Ông Trần Trọng An – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 23/7/2023, Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Nguyễn Trọng D có biểu hiện sử dụng ma túy. Ngày 23/7/2023 Công an phƣờng T đã đề nghị Trung tâm y tế thành phố D tiến hành xét nghiệm xác định tình trạng nghiện đối với Nguyễn Trọng D. Trung tâm y tế thành phố D kết luận Nguyễn Trọng D có nghiện ma túy, loại ma túy mà Nguyễn Trọng D sử dụng là Methamphetamine. Tại bản tƣờng trình, biên bản ghi lời khai Nguyễn Trọng D thừa nhận có sử dụng ma túy lần đầu từ năm 2011, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 22/7/2023.

Ngày 23/7/2023, Ủy ban nhân dân phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định số 298/QĐ-UBND giao Nguyễn Trọng D cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng quản lý để làm thủ tục đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trên sơ sở đó, Công an phƣờng T, thành phố D tiến hành lập hồ sơ đề nghị đƣa Nguyễn Trọng D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị đƣa Nguyễn Trọng D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để giúp Nguyễn Trọng D trở thành ngƣời có ích cho xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phƣơng. Thời gian áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D là từ 14 tháng đến 18 tháng. Cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng đối với Nguyễn Trọng D là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng, địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng.

- kiến của ngƣời bị đề nghị: Tại phiên họp Nguyễn Trọng D thống nhất đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, xin Tòa án xem xét áp dụng mức thời gian cai nghiện bắt buộc thấp nhất.

- kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chu n bị mở phiên họp và tại phiên họp Th m phán, Thƣ ký, Cơ quan đề nghị và những ngƣời tham gia phiên họp đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, lời khai của Nguyễn Trọng D về việc sử dụng ma túy. Đề nghị phiên họp chấp nhận quan điểm đƣa Nguyễn Trọng D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣợc th m tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Về th m quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ do Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng lập đề nghị Tòa án nhân dân thành phố D xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án nhân dân thành phố D thụ lý, xem xét là đúng th m quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng D lập ngày 23/7/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố D đã thụ lý hồ sơ xem xét nên vẫn còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đƣợc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Hồ sơ đề nghị đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D có đầy đủ thủ tục theo quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Về nơi cƣ trú: Theo hồ sơ cũng nhƣ lời trình bày tại phiên họp của Nguyễn Trọng D, thể hiện Nguyễn Trọng D có đăng ký thƣờng trú tại: số nhà 03, ngõ 8, đƣờng Sông Cày, thị trấn Thạch Hà, huyện Thạch Hà, tĩnh Hà Tĩnh nhƣng không sinh sống; tại thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, xác định không có nơi cƣ trú ổn định.

Căn cứ các tài liệu đã thu thập đƣợc có trong hồ sơ; ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thƣơng binh và Xã hội thành phố D; ý kiến của ngƣời bị đề nghị; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D đủ cơ sở xác định: Nguyễn Trọng D sử dụng ma túy. Loại ma túy mà Nguyễn Trọng D sử dụng là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247 của Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Nhƣ vậy, Nguyễn Trọng D là đối tƣợng bị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Nguyễn Trọng D là ngƣời đã thành niên đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Nguyễn Trọng D không chỉ gây hại cho sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, ảnh hƣởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc và tại phiên họp Nguyễn Trọng D đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tình tiết trên đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Từ những phân tích trên xét thấy việc đƣa Nguyễn Trọng D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Đối với ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng D là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mƣời bốn) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng có quyền kháng nghị; ngƣời bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động – Thƣơng binh và Xã hội thành phố D; Công an thành phố D và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ