vanban.org

Quyết định 102/2023/QĐ-TA

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/12/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 11/01/1982.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai là 01 (một) năm 08 (tám) tháng, kể từ ngày ông Nguyễn Văn H bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông Nguyễn Văn H có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định. Phòng Lao động -… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 11/01/1982.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 102/2023/QĐ-TATrảng Bom, ngày 22 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thùy Dung

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 101/2023/QĐ-TA ngày 13 tháng 12 năm 2023, đối với:

Ông Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 11/01/1982

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 4/12

Quê quán: Phú Thọ.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ G, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: 04 tiền án.

Tiền sự: Không

Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1.

Ngày 06/12/2023, được giao cho gia đình (đại diện là bà Nguyễn Thị T1) để quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

(Vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Quang T2 – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 08/11/2023, ông Nguyễn Văn H bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018 và lần sử dụng ma túy gần đây nhất trước khi bị phát hiện là vào ngày 08/11/2023, tại nhà ở ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine) và cỏ mỹ, sử dụng bằng hình thức hút. Ông H tuy có nơi cư trú ổn định nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Ngày 15/10/2022, ông H bị UBND xã A ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 99/QĐ-UBND, trong thời hạn 01 năm (từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/10/2023) thì đến ngày 08/11/2023, ông H vi phạm, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã A lập biên bản vi phạm hành chính số 04/BB–VPHC ngày 08/11/2023. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/11/2023 đối với ông H bằng que Test nhanh đã thể hiện kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/11/2023 của Trạm y tế xã An Viễn đối với ông H thể hiện kết quả: nghiện ma túy, loại ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Căn cứ vào Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện nêu trên, Công an xã A đã thông báo về tình trạng nghiện ma túy cho ông H để thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định pháp luật. Ngày 24/11/2023, UBND xã A đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với ông Nguyễn Văn H về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Theo bản xác nhận về việc quản lý người nghiện trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 06/12/2023 của bà Nguyễn Thị T1 là mẹ ông H thể hiện: Có đồng ý quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nên ông H được giao cho gia đình quản lý là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Ngày 06/12/2023, Ủy ban nhân dân xã A đã ban hành văn bản số 04/ĐN– CNBB đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn H. Ngày 08/12/2023, Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện T có công văn số 718/LĐTB&XH đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông H.

Tại phiên họp, Đại diện Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện T giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với ông Nguyễn Văn H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và đề nghị thời gian đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông H từ 20 tháng đến 22 tháng.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn H vẫn vắng mặt tại phiên họp và không thuộc trường hợp vắng mặt do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục chung.

Về căn cứ, đối tượng áp dụng: Ông Nguyễn Văn H là người trên 18 tuổi, đang nghiện chất ma túy, loại ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có nơi cư trú ổn định nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, ông H là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Khoản 3 Điều 3 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 08/11/2023, ông H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị Công an xã A phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội ngày 08/11/2023, bị Ủy ban nhân dân xã A lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện ngày 24/11/2023 nên còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Ông Nguyễn Văn H có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh những tệ nạn xã hội. Bản thân ông H đã nghiện và không tự nguyện cai nghiện chất ma túy. Hành vi của ông H là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần đưa ông H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cai nghiện và trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

Như vậy, Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 11/01/1982.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai là 01 (một) năm 08 (tám) tháng, kể từ ngày ông Nguyễn Văn H bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Ông Nguyễn Văn H có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (22/12/2023).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và Công an huyện T có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.

Cỡ chữ