- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Ông Nguyễn Trọng T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI _____________________ Số: 102/2022/QĐDS-ST Ngày: 13/5/2022 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
Bà Đỗ Thị Vân.
Thư ký phiên họp:
Bà Ngô Thị Thu Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Hiệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông A, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 233/2021/TLST-VDS ngày 14 tháng 12 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2022/QĐPH-VDS ngày 04 tháng 5 năm 2022.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1956. Hộ khẩu thường trú: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976 (con ông T).
2.2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1956 (mẹ đẻ chị H).
Đều có hộ khẩu thường trú: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V là ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1956. Hộ khẩu thường trú: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Nguyễn Trọng T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội là đã chết.
Có mặt: Ông T.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đông A nhận định:
Tại đơn yêu cầu đề ngày 06/12/2021 và các bản tự khai tiếp theo, người yêu cầu, ông Nguyễn Trọng T trình bày:
Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị V năm 1975. Giữa ông và bà V sinh được 01 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976. Khoảng năm 1978 ông và bà V ly hôn, theo quyết định ly hôn thì chị H do ông trực tiếp nuôi dưỡng và thực tế chị H ở với ông từ nhỏ cho đến khi bỏ đi biệt tích. Từ nhỏ chị H đã bị bệnh động kinh, sức khỏe không bình thường.
Ông không biết lý do tại sao khoảng tháng 8 năm 1997, chị Nguyễn Thị Thu H đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích. Chị H khi bỏ đi không có chồng, không có con. Hiện nay chị Nguyễn Thị Thu H vẫn chung sổ hộ khẩu với ông. Ông không biết chị H ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình ông đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị H. Như vậy, chị Nguyễn Thị Thu H đã biệt tích gần 25 năm, hiện không biết ở đâu.
Nay, để thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình phát sinh trong đời sống, ông đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị V nhất trí với quan điểm của ông Nguyễn Trọng T.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết.
Ông T được miễn tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe người yêu cầu trình bày, xem xét tài liệu, chứng cứ và ý kiến đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A tại phiên họp.
XÉT THẤY
Ông Nguyễn Trọng T kết hôn với bà Nguyễn Thị V năm 1975. Giữa ông T và bà V sinh được 01 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976. Khoảng năm 1978 ông T và bà V đã ly hôn, theo quyết định ly hôn thì chị H do ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Theo lời khai của ông T và bà V thì từ nhỏ chị H đã bị bệnh động kinh, sức khỏe không bình thường.
Ông T, bà V không biết lý do tại sao khoảng tháng 8 năm 1997, chị Nguyễn Thị Thu H đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình ông T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị H. Chị H khi bỏ đi không có chồng, không có con. Hiện nay chị Nguyễn Thị Thu H vẫn chung sổ hộ khẩu với ông T.
Ngày 27/4/2021, Công an xã Nguyên K có văn bản xác nhận chị Nguyễn Thị Thu H không có mặt tại địa pH khoảng hơn 20 năm, nhưng vẫn có hộ khẩu tại thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Hà Nội, không làm thủ tục đăng ký tạm vắng. Sau khi thụ lý việc dân sự, ngày 15/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Đông A đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, quyết định này đã được đăng, phát trên pH tiện thông tin đại chúng và thời hạn nhắn tin đã được hơn 04 tháng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, sau gần 25 năm liền kể từ ngày chị H bỏ đi mà vẫn không có tin tức xác thực là chị H còn sống. Vì vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T đề nghị tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết có căn cứ nên được chấp nhận.
Về ngày chết của chị Nguyễn Thị Thu H được xác định như sau: Tài liệu chứng cứ thu thập được không xác định được ngày, tháng, mà chỉ xác định chị H bỏ đi biệt tích năm 1997. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự thì ngày chết được xác định như sau: Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy ngày chết của chị Nguyễn Thị Thu H là ngày 01/01/2003.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phù hợp pháp luật.
Về lệ phí: Ông Nguyễn Trọng T là người cao tuổi nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 4 Điều 27, các Điều 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H là đã chết.
- Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội là đã chết ngày 01 tháng 01 năm 2003.
- Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 13/10/1976, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Nguyên K, xã Nguyên K, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội được giải quyết như đối với người đã chết.
- Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Trọng T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự.
Ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định hợp lệ tại địa pH nơi cư trú cuối cùng.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đông A. - Những người tham gia tố tụng. - UBND xã Nguyên K. - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp Đỗ Thị Vân |