vanban.org

Quyết định 102/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/04/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Huỳnh Thị H1.

Tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1962; địa chỉ nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường T1, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của ông Nguyễn Xuân T2 là ngày 01/01/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Giải quyết yêu cầu của bà Huỳnh Thị H1 về việc tuyên bố chết đối với ông Nguyễn Xuân T2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Huỳnh Thị H1.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 102/2019/QĐDS-STTân Bình, ngày 05 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Phước Lý

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Văn Hiếu- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Lê Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 466/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1965; địa chỉ: Đường T1, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1940;

2. Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1988;

3. Ông Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ: Đường T1, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Huỳnh Thị Hoa yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1962; địa chỉ nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường T1, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu: Ông Nguyễn Xuân T2 có nơi cư trú cuối cùng tại quận Tân Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết: Căn cứ Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn sao từ Sổ đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cấp ngày 29/7/2013 thì ông Nguyễn Xuân T2 và bà Huỳnh Thị H1 đã đăng ký kết hôn ngày 23/02/1988 tại Ủy ban nhân dân Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận số 21/1988; Quyển số 01/P.26). Bà H1 và ông T2 là vợ chồng hợp pháp. Do đó, bà H1 có quyền yêu cầu tuyên bố ông T2 là đã chết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Huỳnh Thị H1 trình bày: Bà và ông Nguyễn Xuân T2 tự nguyện tìm hiểu, tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/02/1988. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì tình cảm lạnh nhạt, đến năm 2009 ông T2 bỏ nhà đi đến nay không về và không có tin tức gì nên nay nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T2 đã chết để thuận tiện cho các thủ tục hành chính khi cần thiết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Hoàng Thị M, ông Nguyễn Xuân H2 và ông Nguyễn Ngọc H3 thống nhất với yêu cầu của bà Huỳnh Thị H1 và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Hoa tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2 là đã chết.

Về nội dung:

Ông Nguyễn Xuân T2 bỏ nhà đi từ năm 2009 đến nay không về và không có tin tức gì nên bà Huỳnh Thị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T2 là đã chết để thuận tiện cho các thủ tục hành chính khi cần thiết.

Xét yêu cầu của bà Huỳnh Thị H1 về tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2 là đã chết.

Theo lời trình bày của các đương sự và xác nhận của Công an Phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/8/2018: “Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1962, hộ khẩu thường trú tại Đường T1, Phường C, quận B nhưng bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 đến nay, đi đâu không rõ”. Bà H1 đã thông báo tìm kiếm thông tin ông T2 trên Báo Lao động, Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh tìm kiếm thông tin ông T2 nhưng cũng không có thông tin xác thực là còn sống.

Tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”

Từ những căn cứ trên và lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tòa án nhân dân quận Tân Bình chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị H1 tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2 là đã chết.

Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của ông T2 bỏ đi nên thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, Điều 372; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 68, điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Huỳnh Thị H1.

Tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1962; địa chỉ nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường T1, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của ông Nguyễn Xuân T2 là ngày 01/01/2010.

Bà Huỳnh Thị H1 thực hiện đăng ký khai tử cho ông Nguyễn Xuân T2 theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Xuân T2 là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông T2 được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của ông Nguyễn Xuân T2 được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông T2 (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Huỳnh Thị H1 phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008958 ngày 29/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H1 đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Huỳnh Thị H1 có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định. Bà Hoàng Thị M, ông Nguyễn Xuân H2 và ông Nguyễn Ngọc H3 vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ