- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH Panasonic Việt Nam- Công ty TNHH phân phối và thương mại Thăng Long"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định đình chỉ số 08/2017/QĐST-KDTM ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, giữa:
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Pháp lệnh Trọng tài thương mại; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 102/2017/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp:
Ông: Nguyễn Đình Tiến
Các Thẩm phán:
Ông: Hoàng Ngọc Thành
Bà: Chu Thị Nga
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 08/2017/QĐST-KDTM ngày 09 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, giữa:
Nguyên đơn: Công ty TNHH P
Địa chỉ: Lô J1- J2, khu công nghiệp T L, huyện Đ A, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Công ty TNHH phân phối và thương mại T L
Địa chỉ: Căn hộ 702, nhà C7, phường T X B, quận T X, thành phố Hà Nội.
Tại đơn kháng cáo ngày 28 tháng 8 năm 2017 của ông Nguyễn Đức T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Công ty TNHH P theo giấy ủy quyền ngày 12 tháng 12 năm 2014 với lý do: Quyết định của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân không đúng với quy định tại điểm b khoản 1.2 Điều 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và điểm b khoản 4 Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại. Công ty TNHH P đề nghị hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 08/2017/QĐST-KDTM ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân và tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền.
XÉT THẤY:
Ngày 11/1/2016, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thụ lý hồ sơ vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 09/8/2017, Tòa án nhân dân quận T X quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do vụ việc tranh chấp giữa Công ty TNHH P và Công ty TNHH phân phối và thương mại T L thuộc thẩm quyền của Trung tâm trọng tại Quốc tế Việt Nam (VIAC) tại Việt Nam, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo thỏa thuận tại khoản 2 Điều 18 của Hợp đồng phân phối số 04 PSV-TMThangLong/2012/Distribution giữa Công ty TNHH P với Công ty TNHH phân phối và thương mại TL về giải quyết tranh chấp có quy định “trong trường hợp một bên xét thấy tranh chấp không thể giải quyết được thông qua thương lượng dù đã nỗ lực ở mức cao nhất có thể, các bên đồng ý không hủy ngang rằng tranh chấp đó sẽ được đưa ra giải quyết bởi Trung tâm trọng tại Quốc tế Việt Nam (VIAC) tại Việt Nam phù hợp với các nguyên tắc tố tụng hiện hành của VIAC”. Như vậy, Hợp đồng phân phối số 04 PSV-TMThangLong/2012/Distribution giữa Công ty TNHH P Công ty TNHH phân phối và thương mại T L có thỏa thuận khi xảy ra tranh chấp thì sẽ được đưa ra giải quyết bởi Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tại Việt Nam phù hợp với các nguyên tắc tố tụng hiện hành của VIAC.
Theo quy định tại Điều 5 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài: “...1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp....” và Điều 6 quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
Do đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Công ty TNHH P và Công ty TNHH phân phối và thương mại T L thuộc thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Thời điểm hai bên ký kết hợp đồng là năm 2012 nên áp dụng Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Công ty TNHH P căn cứ điểm b khoản 1,2 Điều 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 31/7/2003 hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 để kháng cáo là không có cơ sở.
Công ty TNHH P căn cứ quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để kháng cáo QĐ của Tòa án cấp sơ thẩm là không có cơ sở vì điểm b khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP quy định đối với trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, vừa có thảo thuận giải quyết tại Tòa án. Trong trường hợp này, Công ty TNHH P và Công ty TNHH phân phối và thương mại T L chỉ thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà không có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Ngoài ra, Công ty TNHH P căn cứ khoản 5 Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không có cơ sở, vì theo quy định tại khoản 5 Điều 4 của Nghị quyết quy định Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại: “...5. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp”. Trong trường hợp này, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ và người tiêu dùng không có thỏa thuận trọng tài nên không được áp dụng quy định này để giải quyết.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do vụ việc tranh chấp giữa Công ty TNHH P và Công ty TNHH phân phối và thương mại T L thuộc thẩm quyền của Trung tâm trọng tại Quốc tế Việt Nam (VIAC) tại Việt Nam, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, căn cứ quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì mức án phí phúc thẩm là 2.000.000 (Hai triệu) đồng. Tuy nhiên, ngày 31/8/2017, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thông báo cho Công ty TNHH P nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm với số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng là còn thiếu, vì vậy Công ty TNHH P nộp thêm tiền tạm ứng án phí phúc thẩm với số tiền 1.800.000 (Một triệu tám trăm nghìn) đồng.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên quyết định đình chỉ số 08/2017/QĐST-KDTM ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, giữa:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH P
Địa chỉ: Lô J1- J2, khu công nghiệp T L, huyện Đ A, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Công ty TNHH phân phối và thương mại T L
Địa chỉ: Căn hộ 702, nhà C7, phường T X B, quận T X, thành phố Hà Nội.
2. Về án phí: Công ty TNHH P phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 07853 ngày 15/9/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể tự ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKS ND TP Hà Nội; - TAND quận Thanh Xuân; - Chi cục THADS quận Thanh Xuân; - Các đương sự; - Lưu VP, TKT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Đình Tiến |