- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê nhà — án dân sự — "Phan Tâm Nghi X - Trần Hữu Quế"
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Số: 1017/2018/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 11 năm 2018 |
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!!
QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!DÂN!SỰ
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu Hương
Ông Nguyễn Bá Thịnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.
!
NHẬN!-THẤY:!
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018, Tòa án nhân dân Quận R – Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 48, 211, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp hợp đông thuê nhà”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Phan Tâm Nghi X, sinh năm 1995;
Địa chỉ số 334/7 Đường F, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên hệ: số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngườỉ đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 04/12/2015).
Bị đơn: Ông Trần Hữu Quế, sinh năm 1969; Địa chỉ: số 44 Đường Đ, Phường L, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP B; Địa chỉ: số 109 phố K, Phường C, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo: Nguyên đơn – Bà Phan Tâm Nghi X.
Tại đơn kháng cáo nộp ngày 28/08/2018, bà Phan Tâm Nghi X kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận R và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Quận R tiếp tục giải quyết vụ án. Theo kháng cáo của bà Phan Tâm Nghi X, bà đã nhận được Thông báo của Tòa án nhân dân Quận R về mở phiên hòa giải vào lúc 14 giờ 30 ngày 12/07/2018, tuy nhiên bà và người đại diện theo ủy quyền của bà là Trần Thị T không thể có mặt, bà đã cử bà Trần Thị H đến liên hệ Tòa án. Đến phiên họp hòa giải và công khai chứng cứ lần thứ hai được mở vào lúc 14 giờ 30 ngày 10/08/2018, bà đã lập giấy ủy quyền cho bà Trần Thị H thay mặt bà tham gia tố tụng, bà H đã có mặt và nộp giấy ủy quyền cho Tòa án nhưng không ai lập biên bản. Tòa án nhân dân Quận R ra quyết định đình chỉ vụ án do cho rằng nguyên đơn vắng mặt đến lần thứ hai là không đúng.
Tại phiên họp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bà Phan Tâm Nghi X, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận R do kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở.
XÉT!THẤY:!
Căn cứ vào các biên bản tố tụng lưu tại hồ sơ, nhận thấy:
Biên bản tống đạt trực tiếp ngày 18/06/2018 (BL.84) tại địa chỉ nhà số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z thể hiện: bà Phan Tâm Nghi X là nguyên đơn đã nhận thay và cam kết giao lại cho bà Trần Thị T là đại diện hợp pháp của nguyên đơn Thông báo số 01/TB- TA ngày 12/06/2018 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được mở vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 12/07/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận R.
Đồng thời, tại địa chỉ nhà nguyên đơn số 433/7 Đường F, tổ 12, Khu phố 2, Phường T, Quận Z, bà Phan Tâm Nghi X cũng đã được tống đạt trực tiếp Thông báo số 01/TB- TA ngày 12/06/2018 của Tòa án nhân dân Quận R về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được mở vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 12/07/2018, nguyên đơn đã nhận và cam kết giao lại cho bà Trần Thị T là đại diện theo ủy quyền theo Biên bản tống đạt trực tiếp ngày 18/06/2018 (BL.83).
Tại đơn kháng cáo, nguyên đơn thừa nhận mình đã nhận dược Thông báo và giấy triệu tập đến phiên họp lúc 14 giờ 30 phút ngày 12/07/2018 nhưng cả nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trần Thị T đều không có mặt. Việc nguyên đơn cử người đến thông tin về việc vắng mặt nhưng tại thời điểm này bà Trần Thị H không phải là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn nên không thể tham gia tố tụng được.
Do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Tòa án nhân dân Quận R đã lập Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 12/07/2018 (BL.86) là đúng quy định tại Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tiếp đến, phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được ấn định lại lần thứ hai vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 10/08/2018 theo Thông báo số 02/TB-TA ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân Quận R(BL.95). Tòa án nhân dân Quận R đã tống đạt trực tiếp cho bà Phan Tâm Nghi X tại số 334/7 Đường F, Phường T, Quận Z theo biên bản ngày 19/07/2018 (BL.92) và tại địa chỉ số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z theo biên bản ngày 19/07/2018 (BL.93). Nguyên đơn đã nhận và cam kết giao lại ngay cho bà Trần Thị T.
Xét về thủ tục tống đạt, Tòa án nhân dân Quận R đã tống đạt văn bản tố tụng cho người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại địa chỉ của bà Trần Thị T số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z, tại địa chỉ này nguyên đơn ngụ cùng địa chỉ đã nhận thay và cam kết giao lại cho người đại diện của mình, vậy thủ tục tống đạt là hợp lệ theo quy định tại Khoản 1, 3 Điều 172, khoản 1 Điều 173, Khoản 1 Điều 174, 177 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đồng thời, do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có mặt tại địa chỉ vừa nêu nên Tòa án nhân dân Quận R đã tống đạt thêm tại địa chỉ số 334/7 Đường F, Phường T, Quận Z. Việc tống đạt văn bản tố tụng tại địa chỉ cư trú của nguyên đơn tuy không là bắt buộc theo quy định pháp luật trong trường hợp nguyên đơn đã có người đại diện hợp pháp của mình, tuy nhiên việc tống đạt tại địa chỉ của nguyên đơn thể hiện sự cẩn thận của Tòa án nhân dân Quận R trong việc đảm bảo quyền được nhận văn bản tố tụng của đương sự.
Theo nguyên đơn, bà Phan Tâm Nghi X đã biết về phiên họp lần thứ hai này và cử bà Trần Thị H đến tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 07/08/2018 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn X (Quận Z). Tuy nhiên, phía nguyên đơn không có tài liệu, bằng chứng nào chứng minh bà Trần Thị H đã nộp Giấy ủy quyền vừa nêu cũng như việc bà H hoặc người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt vào chiều ngày 10/08/2018. Theo văn bản ủy quyền giữa bà Phan Tâm Nghi X và bà Trần Thị H lập ngày 07/08/2018 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn X (Quận Z) được lưu tại hồ sơ vụ án, văn bản này được gởi đến Tòa án nhân dân Quận R vào ngày 28/08/2018, vậy việc Tòa án nhân dân Quận R lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 10/08/2018 do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (BL.96) là đúng.
Kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở, ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ. Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 415/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận R.
Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
- Căn cứ Điều Khoản 1 Điều 148 và Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 415/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
“ 1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 1916/2015/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2015 vê việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Phan Tâm Nghi X, sinh năm 1995;
Địa chỉ số 334/7 Đường F, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên hệ: số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngườỉ đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số 13/13 Đường I, Phường T, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 04/12/2015).
Bị đơn: Ông Trần Hữu Quế, sinh năm 1969; Địa chỉ: số 44 Đường Đ, Phường L, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP B; Địa chỉ: số 109 phố K, Phường C, Quận H, Thành phố Hà Nội.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Bà Phan Tâm Nghi X có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự.
Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Phan Tâm Nghi X đã nộp là 4.902.188 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2014/0003282 ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh được sung vào công quỹ nhà nước.”
3. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) người kháng cáo phải chịu, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0023502 ngày 29/08/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận R, người kháng cáo đã nộp đủ án phí.
4. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận:!! - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM; - Tòa án nhân dân Quận R; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận R; - Các đương sự; - Lưu VT, HS. !!!!!!!!!!!!! | TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP Nguyễn!Thị!Thanh!Hiền! |