- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Trần Hồng Â.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ————— Số: 101/2019/QĐ-TA | T, ngày 04 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
---
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Ngọc Loan
2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 109/QĐ-TA ngày 25 tháng 6 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Trần Hồng Â, sinh năm 1990. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa. Trình độ học vấn: 12/12. Nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở: Không ổn định. Nghề nghiệp: Không. Con ông Trần Xuân T và bà Vũ Thị L. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Ngày 14/5/2019, được đưa vào Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện T (Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Siêm - Chuyên viên Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai tại Công an thị trấn T vào ngày 14/5/2019, anh Trần Hồng  thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ năm 2012 và lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 14/5/2019, tại khu phố 3, thị trấn T. Loại ma túy anh  sử dụng là Heroin và ma túy đá.
Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 14/5/2019 của Công an thị trấn T bằng que Test chất ma túy trong mẫu nước tiểu của anh  thể hiện anh  có sử dụng ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 16/5/2019 của Trạm y tế thị trấn T về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Anh  có nghiện ma túy, loại ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Ngày 14/5/2019, Công an thị trấn T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh  về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo biên bản xác minh của Công an xã Bình Minh thể hiện: Anh  có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nhưng không xác định được chỗ ở hiện nay, thường xuyên bỏ nhà đi đâu không rõ.
Chủ tịch UBND thị trấn T có văn bản số 24/ĐN-UBND, ngày 14/5/2019 về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Â. Trưởng phòng Tư pháp huyện T có văn bản số 360/TP, ngày 28/5/2019 về việc kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh  là đảm bảo tính pháp lý. Ngày 14/6/2019, Trưởng phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện T có công văn số 13/LĐTB&XH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Â.
Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 02/7 /2019 của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đã xác định: Anh  có nghiện ma túy loại Methamphetamine và Heroin.
Tại phiên họp, anh  thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ năm 2012, gần đây nhất là vào ngày 14/5/2019, tại địa bàn thị trấn T, huyện T.
Đại diện Phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện T giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Â.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện T.
XÉT THẤY:
Về căn cứ, đối tượng áp dụng: Anh  là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ vào Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ) thì đây là đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 14/5/2019, anh  sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị Công an thị trấn T phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/ 12/ 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ); Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 07 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, Bộ Công an; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ Công an.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Anh  đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh  không có tình tiết tăng nặng.
Xét việc Phòng lao động- Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh  là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Trần Hồng Â.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 14/5/2019.
3. Anh Trần Hồng  có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (04/7/2019).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và Công an huyện T có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH; - Trưởng Công an huyện; - Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh ĐN; - VKSND huyện; - UBND xã Bình Minh; UBND thị trấn T; - Lưu: VT, hồ sơ. Mẫu 09 | THẨM PHÁN Đặng Thị Ngọc Loan |