- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| Toµ ¸n nh©n d©n tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Sè:10/2022/Q§-PT QuyÕt ®Þnh |
Gi¶i quyÕt viÖc kh¸ng CÁO ®èi víi
quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n
Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó thä
Với Héi ®ång phóc thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn häp: Ông Nguyễn Hà Giang;
C¸c ThÈm ph¸n:
¤ng Nguyễn Kim Ái;
Ông Nguyễn Việt Tiến.
T¹i quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 101/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021.
Toµ ¸n nh©n d©n thành phố V, tỉnh Phú Thọ ®· c¨n cø vào Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 10/2021/TLST-DS ngày 19/01/2021 về việc “ Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Tổ 3, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị N, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Tổ 3, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Theo giấy ủy quyền
ngày 22/6/2020).
2. BÞ ®¬n:
- Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Khu 3, xã T1, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Đào Lập Đ, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Khu 6, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Của ông Đ, anh C là Công ty luật TNHH TECHCO.
Địa chỉ trụ sở: Tầng 7, số 31, V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp
luật: Ông Nguyễn Công H– Chức vụ: Giám đốc (Theo hợp đồng ủy quyền số:
05/2021/HĐUQ- TECHCO ngày 25/01/2021).
- Văn phòng công chứng Phú Thọ.
Địa chỉ: số 71, đường Minh Lang, phường T1, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Cầu – Chức vụ: Trưởng văn phòng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Chiến – Công chứng viên.
(Theo giấy ủy quyền số: 52/VP ngày 09/3/2021).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tấn A, sinh năm 1990;
Đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị N, sinh năm 1963;
(Theo giấy ủy quyền ngày 14/4/2021).
Đều có địa chỉ: Tổ 3, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: số 1166, đường Hùng Vương, phường T1, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S– Chức vụ: chủ tịch UBND thành
phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn Chung, sinh năm 1979; Chức vụ: Phó
trưởng phòng TN&MT thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Theo giấy ủy quyền ngày 27/7/2021).
Tại đơn kháng cáo ngày 10/10/2021, Ông Nguyễn Trọng D là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét lại quyết định ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 101/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021 của TAND thành phố V và cho ông được biết các khoản chi phí trong việc thẩm định và định giá tài sản có phù hợp thực tế và đúng quy định pháp luật.
XÐt thÊy:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/5/2020, 08/7/2020 và đơn khởi kiện bổ sung và sửa đổi lần 02 người khởi kiện là Ông Nguyễn Trọng D đề nghị:
Thứ nhất, đề nghị hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất nông nghiệp, giữa bên chuyển nhượng Ông Nguyễn Trọng D, Bà Dương Thị N, anh Nguyễn Tấn A với bên nhận chuyển nhượng Ông Đào Lập Đ lập ngày 16/11/2016, đối với đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất nông nghiệp gồm các thửa đất số 230, diện tích 40 m2; thửa đất số 13, diện tích 156 m2; thửa đất số 254, diện tích 344 m2; thửa đất số 252, diện tích 186 m2; thửa đất số 290, diện tích 162 m2; thửa đất số 308-13, diện tích 180 m2; thửa đất số 248, diện tích 48 m2 đều thuộc số tờ bản đồ 24, tổng diện tích 1116 m2, mục đích sử dụng đất lúa, thời hạn sử dụng tháng 10/2013, địa chỉ thửa đất: xã Trưng Vương, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P430438 do UBND thành phố V cấp theo quyết định số 466/QĐ – UB ngày 27/7/1999.
Thứ hai, nếu không Hủy hợp đồng thì phía bị đơn phải trả tiền đền bù 360.000.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng) một sào đất ruộng như những hộ nhận đền bù sau.
Sau khi thụ lý vụ án để giải quyết Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã cho các đương sự tự khai, thu thập các tài liệu, chứng cứ cần thiết khác để giải quyết vụ án.
Ngày 06/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số: 54/TB – TA với nội dung “ Tòa án cần thiết phải xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp mới có căn cứ để giải quyết vụ án, thì nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định của pháp luật với số tiền ông D phải nộp tạm ứng là 15.000.000đ”, thông báo này đã giao cho Bà Dương Thị N nhận ngày 07/9/2021.
Ngày 08/9/2021 và ngày 17/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V nhận được đơn đề nghị với nội dung: Đề nghị xem xét lại thông báo nộp tiền chi phí tố tụng không hợp lý người ít diện tích lại nộp nhiều tiền hơn người nhiều diện tích mà không theo quy định nào, xem xét cụ thể số tiền chi phí tố tụng để ông thực hiện theo luật tố tụng, mặt bằng ruộng đã bị biến động nên đo đạc không thể thực hiện được nên đề nghị Tòa cho nguyên đơn hợp đồng với đơn vị đo đạc. Hết thời hạn nộp tiền nhưng ông D chưa nộp nên Tòa án nhân dân thành phố V đã ra quyết định đình chỉ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 101/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021. Sau đó, ông D kháng cáo quyết định đình chỉ này.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy:
[1]. Ông Nguyễn Trọng D yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất nông nghiệp vì cho rằng bị lừa dối khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất và nếu không Hủy hợp đồng thì phía bị đơn phải trả tiền đền bù 360.000.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng) một sào đất ruộng. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 127 Bộ luật dân sự thì giao dịch dân sự bị lừa dối ký hợp đồng thì hợp đồng bị vô hiệu. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như thi hành án thì khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ để xác định diện tích đất, các tài sản khác trên đất và định giá tài sản để xác định giá trị quyền sử dụng đất làm căn cứ giải quyết việc bồi thường khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương nơi đất đang tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Hôn nhân và gia đình.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là cần thiết nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản mà không cần ông D phải có đơn yêu cầu là đúng quy định tại Điều 97, Điều 101, Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông D cho rằng thông báo nộp tiền chi phí tố tụng không hợp lý người ít diện tích lại nộp nhiều tiền hơn người nhiều diện tích mà không theo quy định nào, xem xét cụ thể số tiền chi phí tố tụng để ông thực hiện theo luật tố tụng, mặt bằng ruộng đã bị biến động việc đo đạc không thể thực hiện được nên đề nghị Tòa án cho ông D hợp đồng với đơn vị đo đạc. Xét thấy, việc thực hiện xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo trình tự tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, do vậy cần kiểm tra diện tích đất thực tế bằng việc đo đạc để đốì chiếu với diện tích đất được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thay đổi gì so với thời điểm các bên chuyển nhượng hay không và định giá giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm để từ đó có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Việc xác định số tiền phải nộp trước khi xem xét, thẩm định và định giá chỉ mang tính chất tương đối chính vì vậy pháp luật mới quy định là tiền tạm ứng nên không có mức cụ thể số tiền phải nộp như ông D yêu cầu. Hơn nữa sau khi xem xét, thẩm định và định giá xong thì mới quyết toán các chi phí này và thông báo cho ông D biết, nếu chưa đủ thì nộp thêm và còn thừa thì trả lại cho ông D và việc xác định nghĩa vụ ai phải chịu số tiền này được ghi trong bản án, quyết định.
Như vậy, Trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu ông D phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tạm ứng chi phí định giá tài sản là đúng quy định tại Điều 155, 156, 163 và Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do ông D không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng quy định. Vì vậy, kháng cáo của ông D không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hô ̣i đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông D. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 101/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của TAND thành phố V.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
C¨n cø điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 của Bé luËt tè tông d©n sù;
quyÕt ®Þnh
1. Không chấp nhận kháng cáo của Ông Nguyễn Trọng D. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 101/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
2. Về án phÝ: Ông Nguyễn Trọng D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông D (Do Bà Dương Thị N nộp thay) số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009710 ngày 19/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
3. QuyÕt ®Þnh phóc thÈm cã hiÖu lùc pháp luật kÓ tõ ngµy ra quyÕt ®Þnh./.
CÁC THẨM PHÁN
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Hà Giang |