- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Như Q - Nguyễn Hoàng Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 yêu cầu Tòa án xác nhận cha cho con là:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2026/QĐST-HNGĐ | Thành phố Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Hường - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Trần Quốc Trung – Thư ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên họp: Bà Phạm Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 235/2025/HNGĐ-ST ngày 03/3/2026 về yêu cầu xác định cha cho con theo Quyết định mở phiên họp số: 14/2026/QĐPH- VDS ngày 13 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Những người yêu cầu:
- Chị Bùi Như Q - sinh năm 1987.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, do Bộ C1 cấp ngày 29/12/2025; Nơi cư trú: Số G L, phường P, quận H (nay là phường H), Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số C, ngõ A ngách C phố T, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Q: Ông Vũ Ngọc Đ- Luật sư, Công ty L.
- Anh Nguyễn Hoàng Đ1, sinh năm 1993.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/3/2020; Nơi thường trú: Tổ F, đường H, phường H, Thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S – Bộ C1. Xin vắng mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng. Tháng 7 năm 2020 chị Q và anh Nguyễn Thanh T ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội. Tại Quyết định số 397/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2020 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội về phần con chung: Chị Q, anh T xác nhận chị Q, anh T có 01 con MWY230326.TL.QDBA.1047 chung là Nguyễn Gia H (nam), sinh ngày 28/9/2007. Giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H.
Năm 2019, chị Bùi Như Q có quan hệ tình cảm và chung sống với anh Nguyễn Hoàng Đ1 nên đã có thai.
Ngày 06/12/2020, tại khoa sản Bệnh viện TWQĐ 108 chị Q đã sinh con, theo giấy chứng sinh số 63, Quyển số 26 ngày 06/12/2020 của Bệnh viện TWQĐ 108 thể hiện: Số con trong lần sinh này là 01, Giới tính của con: Nữ. Chị Q tự đặt tên con là Nguyễn Nhã H1.
Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Nhã H1, chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2- Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định ADN của anh Nguyễn Hoàng Đ1 với ADN của cháu Nguyễn Nhã H1 để có căn cứ xác định anh Nguyễn Hoàng Đ1 là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhã H1 và làm căn cứ cho anh Đ1 nhận cha con, làm giấy khai sinh cho Nguyễn Nhã H1.
Ngày 04/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã ra quyết định trưng cầu giám định số 05/QĐ-TCGĐ, Trưng cầu giám định đến Công ty cổ phần D để giám định ADN của anh Nguyễn Hoàng Đ1 với ADN của cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020, tại khoa sản – Bệnh viện TWQĐ 108 có cùng quan hệ huyết thống cha - con.
Tại phiên họp anh Đ1 xin vắng mặt, chị Q có mặt và giữ nguyên yêu cầu.
Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp sau khi tóm tắt nội dung việc yêu cầu đã có ý kiến đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 đề nghị Tòa án xác nhận anh Nguyễn Hoàng Đ1 là cha đẻ của các cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020. Anh Đ1, chị Q không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội nhận định:
. Chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 quen biết có tình cảm với nhau từ năm 2019. Trong thời gian quen biết và có tình cảm với anh Đ1 chị Q đã mang thai. Ngày 06/12/2020, tại khoa sản – Bệnh viện TWQĐ 108 chị Q đã sinh 01 con gái và tự đặt tên con là Nguyễn Nhã H1
Ngày 27/02/2026, chị Q, anh Đ1 có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội xác nhận anh Nguyễn Hoàng Đ1 và cháu Nguyễn Nhã H1 có quan hệ huyết thống cha con và đề nghị Tòa án trưng cầu giám định ADN của anh Đ1 và ADN của các cháu Nguyễn Nhã H1. MWY230326.TL.QDBA.1047
Ngày 04/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 05/2026/QĐ-TCGĐ, Trưng cầu giám định đến Công ty cổ phần D để giám định ADN của anh Nguyễn Hoàng Đ1 với ADN của cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020 để xác định anh Nguyễn Hoàng Đ1 và cháu Nguyễn Nhã H1 có cùng quan hệ huyết thống cha – con không.
Tại kết quả phân tích ADN của Công ty cổ phần D ngày 12/3/2026, Hội đồng khoa học của Công ty E đã kết luận: Anh Nguyễn Hoàng Đ1, sinh ngày 12/01/1993, CCCD số: xxxxxxxxxxxx, kí hiệu mẫu: 44707B và cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020, Nơi sinh: Bệnh viện T1, kí hiệu mẫu: 44707C có quan hệ huyết thống Cha - Con.
. Xét yêu cầu của chị Bùi như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Hoàng Đ1 là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhã H1. Tòa án căn cứ vào lời khai của anh Đ1, chị Q và kết luận giám định của Công ty cổ phần D ngày 12/3/2026, thấy đủ căn cứ xác định cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020, tại khoa sản Bệnh viện T1 và anh Nguyễn Hoàng Đ1 có cùng quan hệ huyết thống C – Con.
Vì vậy yêu cầu của anh Đ1, chị Q đề nghị Tòa án xác nhận cháu Nguyễn Nhã H1 là con đẻ của anh Nguyễn Hoàng Đ1 là có căn cứ nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào kết kết quả phân tích AND của Công ty cổ phần D ngày 12/3/2026;
Căn cứ vào khoản 10 Điều 29; Điều 361; Điều 366; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 yêu cầu Tòa án xác nhận cha cho con là:
Cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020, tại khoa sản Bệnh viện T1 và anh Nguyễn Hoàng Đ1, sinh ngày 12/01/1993, CCCD số: xxxxxxxxxxxx, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/3/2020 có cùng quan hệ huyết thống cha – con.
2. Xác nhận cháu Nguyễn Nhã H1, sinh ngày 06/12/2020, tại khoa sản Bệnh viện T1 là con đẻ của anh Nguyễn Hoàng Đ1, sinh năm 1993, Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/3/2020.
Anh Nguyễn Hoàng Đ1, chị Bùi Như Q và cháu Nguyễn Nhã H1 có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục pháp lý về khai nhận cha con, làm thủ tục khai sinh cho cháu Nguyễn Nhã H1. MWY230326.TL.QDBA.1047
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Bùi Như Q và anh Nguyễn Hoàng Đ1 thuộc trường hợp không phải nộp tiền án phí giải quyết việc dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo,Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định hoặc từ ngày nhận được quyết định.Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKS nhân dân khu vực 2. - THA khu vực 2 – Hà Nội. - Tòa án NDTP Hà Nội. - Lưu.. MWY230326.TL.QDBA.1047 | THẨM PHÁN Đặng Thị Hường |