- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Văn G - Nguyễn Thị B - Tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn G về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2026/QĐST-DS | Ninh Bình, ngày 16 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người là đã chết”
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên họp: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2026/TLST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2026, về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2026/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn G, sinh ngày 27/4/1954.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 07/02/1983.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai tại Tòa án, ông Nguyễn Văn G là người yêu cầu trình bầy:
Ông và vợ ông là bà Tạ Thị T, sinh năm 1958 kết hôn với nhau năm 1978 và sinh được bốn người con chung. Trong đó có một người con gái là chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 07/02/1983. Lúc còn nhỏ, chị B sống cùng vợ chồng ông tại thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình). Đến ngày 17/01/2006, chị B tự bỏ nhà đi, không cho ai biết, cũng không thông báo xin giấy tờ gì của chính quyền địa phương. Từ đó đến nay, chị B không liên lạc gì về với gia đình ông, gia đình ông không có tin tức gì của chị B. Gia đình ông cũng đã tìm kiếm chị B ở nhiều nơi, đăng tin trên báo, đài, mạng xã hội với mong muốn được biết tin tức của chị B ở đâu nhưng đều không có kết quả. Năm 2022, vợ ông là bà Tạ Thị T chết, còn ông tuổi già sức yếu, niềm mong mỏi tìm lại con sau hơn hai mươi năm thất lạc vẫn luôn ẩm ỉ. Nhưng đến nay đã 20 mươi năm trôi qua, gia đình ông vẫn không có tin tức gì của chị B. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 07/02/1983 là đã chết để ông giải quyết việc gia đình. Ngoài ra ông không còn yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại phiên họp, ông Nguyễn Văn G giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị B là đã chết. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 391, Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn G. Tuyên bố chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 07/02/1983 là đã chết ngày 18/01/2011. Ông G được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình nhận định:
Chị Nguyễn Thị B, sinh sinh ngày 07/02/1983 là con đẻ của ông Nguyễn Văn G và bà Tạ Thị T. Ngày 17/01/2006, chị B đã bỏ đi khỏi địa phương, đến nay đã 20 năm, chị B không trở về địa phương lần nào, cũng không liên lạc gì với gia đình. Khi bỏ đi khỏi địa phương, chị B chưa có chồng, con. Gia đình ông G đã tiến hành tìm kiếm chị B ở nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của chị B, không ai biết chị B ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.
Trên cơ sở yêu cầu của ông G, ngày 02/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết số 03/2026/QĐ-TA đối với chị Nguyễn Thị B được đăng trên B1 03 số liên tiếp, số 17+18 ngày 27/02/2026, số 19 ngày 06/3/2026, số 20 ngày 11/3/2026 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 07, 08, 09/02/2026. Nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị B còn sống hay đã chết. Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Ninh Bình cũng xác nhận chị Nguyễn Thị B bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 2006 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào. Do đó ông Nguyễn Văn G yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tuyên bố chị Nguyễn Thị B đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xác định thời điểm chết: Chị B bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng ngày 17/01/2006. Theo khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định: “Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết”. Như vậy, ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn, cụ thể là ngày kết thúc thời hạn 05 năm liền biệt tích (đối với trường hợp điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015). Vì vậy, xác định ngày chết của chị Nguyễn Thị B là ngày 18/01/2011.
Ông Nguyễn Văn G yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị B đã chết, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn G là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về chi phí đăng tin, thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết ông G đã nộp đủ và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Văn G về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 07/02/1983; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố P, phường L, tỉnh Ninh Bình là đã chết ngày 18/01/2011.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí: Ông Nguyễn Văn G được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự; - UBND phường Lê Hồ; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bùi Thị Nguyệt |