vanban.org

Quyết định 10/2022/QĐST-VDS — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị V.

Tuyên bố ông Trần Văn Lực, bà Trần Thị C và bà Nguyễn Thị V có quan hệ nuôi con con theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 và Khoản 1 Điều 52 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Bà Nguyễn Thị V được thực hiện các quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi theo quy định pháp luật. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Vân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 25 Bộ luật Dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2022/QĐST-VDS
Ngày: 15-7-2022
V/v xác định cha mẹ nuôi
Cho con.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v xác định cha mẹ nuôi cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duy Nhân.

Thư ký phiên họp: ông Hoàng Văn Quyềt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2022/TLST-VDS ngày 17/01/2022 về việc yêu cầu xác định cha mẹ nuôi cho con theo Quyết định mở phiên họp số 02/2022/QĐST-VDS ngày 17/6/2022, giữa:

- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị V sinh năm 1958;

HKTT: 3/65N tổ 65, Khu 6, phường P, thành phố T

Người đại diện hợp pháp: ông Lưu Thanh K, sinh năm 1973

HKTT: Nhà số 565 đường H, Khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo uỷ quyền theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 17/12/2021.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị V yêu cầu xác định ông Trần Văn L (sinh năm 1917, chết ngày 15/3/1987 và bà Trần Thị C, sinh năm 1924, chết năm 06/7/2007) là cha mẹ nuôi của bà Nguyễn Thị V.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 17/12/2021, Giấy chứng tử số 39, Quyển số 01/2007 ngày 06/7/2007 của UBND phường P, Giấy chứng tử số 11, Quyển số 01/1988 ngày 20/9/1988 của UBND phường P và các bản tự khai ngày 09/3/2022, ngày 12/7/2022 của bà Nguyễn Thị V cung cấp.

Từ trước năm 1975 ông Trần Văn L và bà Trần Thị C có nhận nuôi bà Nguyễn Thị V từ lúc bà V mấy tháng tuồi cho đến nay. Bà V sinh sống cùng ông L bà C tại địa chỉ nhà số 3/65N tổ 65, Khu 6, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi bà V lập gia đình cũng sinh sống tại địa chỉ trên và chăm sóc ông L bà C cho đến khi ông Lc bà C qua đời. Tuy nhiên do không am hiểu quy định pháp luật nên bà Vân không làm giấy khai sinh để chứng minh quan hệ cha mẹ con với ông L bà C. Nay và V yêu cầu công nhận ông Trần Văn L, bà Trần Thị C là cha mẹ nuôi của bà Nguyễn Thị V để làm căn cứ khai nhận di sản thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Về tố tụng, việc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào kết quả xác minh hộ khẩu thường trú và lời khai của những người làm chứng, đề nghị chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Vân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:

Tại phiên họp, người đại diện hợp pháp của người yêu cầu vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ quy định Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự trong vụ việc.

Căn cứ cứ kết quả cung cấp chứng cứ của UBND phường P ngày 30/5/2022, căn cứ lời khai của những người sinh sống lâu năm tại địa phương là bà Từ Thị O, sinh năm 1936 (bút lục 30), bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952 (Bút lục 31) và ông Huỳnh Xuân H (bút lục 32) đều thừa nhận từ trước năm 1975 ông Trần Văn L và bà Trần Thị C có nhận nuôi bà Nguyễn Thị V từ lúc bà Vân mấy tháng tuồi cho đến nay. Bà V sinh sống cùng ông L, bà C tại địa chỉ nhà số 3/65N tổ 65, Khu 6, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi bà V lập gia đình cũng sinh sống tại địa chỉ trên và chăm sóc ông L bà C cho đến khi ông L bà C qua đời. Tuy nhiên do không am hiểu quy định pháp luật nên bà V không làm giấy khai sinh để chứng minh quan hệ cha mẹ con với ông L bà C và cũng không tiến hành thủ tục đăng ký nuôi con nuôi theo quy định Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Qua xác minh hộ khẩu thường trú của bà Nguyễn Thị V thể hiện bà V có cùng hộ khẩu thường trú với ông Trần Văn L, bà Trần Thị C. Lời trình bày của bà V về quá trình sinh sống thực tế tại địa phương và quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi giữa bà V và ông L bà C là có thật, phù hợp vời lời trình bày của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án

Do đó, có cơ sở xác định giữa ông Trần Văn L, bà Trần Thị C và bà Nguyễn Thị V có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con nên yêu cầu xác định ông Trần Văn L, bà Trần Thị C là cha mẹ nuôi của bà V là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 25 của Bộ luật Dân sự và Điều 50 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 361, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 3. Khoản 1 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị V.

Tuyên bố ông Trần Văn Lực, bà Trần Thị C và bà Nguyễn Thị V có quan hệ nuôi con con theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 và Khoản 1 Điều 52 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Bà Nguyễn Thị V được thực hiện các quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi theo quy định pháp luật.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0000843 ngày 07/01/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Đương sự được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Đương sự vắng mặt hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định./.

Cỡ chữ