vanban.org

Quyết định 10/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Trương Thị H.

Tuyên bố ông Nguyễn Th, sinh năm 1955. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 05 Đ, quận N, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Nay là phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng đã chết kể từ ngày 01.01.1983. Hậu quả pháp lý: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Trương Thị H."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Trương Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU
NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2022/QĐST-DSHải Châu, ngày 27 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Diện

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên họp: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu mở phiên sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định mở phiên họp số: 10/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022.

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Trương Thị H - Sinh năm 1954. Địa chỉ: 59, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978. Địa chỉ: 20/23 M, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981. Địa chỉ: 59, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 30 - 12 - 2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu là bà Trương Thị H trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Th (sinh năm 1955) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1976. Thời gian đó chúng tôi nguyện đến với nhau mà không đăng ký kết hôn và ở tại nhà chòi khu Đ, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ). Nay là phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vào khoảng tháng 10 năm 1982, ông Nguyễn Th đi đánh cá rồi vượt biên cùng bạn thuyền. Khi ông Nguyễn Th đi được khoảng vài ngày thì xảy ra một cơn bão lớn và thuyền bị lật. Từ đó cho đến nay, tôi không có tin tức gì của ông Nguyễn Th nữa. Do nhà ở bị bão làm sập nên gia đình tôi chuyển đến sinh sống tại khu T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Đến năm 2006, nhà tôi thuộc diện di dời giải tỏa và được bố tái định cư tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Trong thời gian chung sống, tôi và ông Nguyễn Th có hai con chung là Nguyễn Thị H (sinh năm 1978) và Nguyễn Văn Q (sinh năm 1981); chúng tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác. Mặc dù đã cố gắng tìm kiếm nhưng cho đến nay, tôi vẫn không có tin tức gì xác thực về việc ông Nguyễn Th còn sống hay đã chết. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Th đã chết theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 8 - 02 - 2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông (bà) Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn Q trình bày:

Chúng tôi là con đẻ của ông Nguyễn Th và bà Trương Thị H. Thời điểm năm 1982, khi cha chúng tôi đi biển và không trở về thì lúc đó chúng tôi còn nhỏ nên không nhớ và không biết rõ sự việc. Chúng tôi xác nhận cha mẹ chúng tôi có hai con chung là Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn Q, không có con nuôi hay con riêng nào khác. Nay mẹ chúng tôi là bà Trương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố cha chúng tôi là ông Nguyễn Th đã chết thì chúng tôi thống nhất và không có ý kiến gì. Vì điều kiện công việc không thể tham gia tố tụng nên bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên họp:

Bà Trương Thị H giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q giữ nguyên ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên họp giải quyết việc dân sự, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải Châu căn cứ Điều 68, 71 và 72 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị H và tuyên bố ông Nguyễn Th đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra phiên họp; ý kiến các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hải Châu nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Trương Thị H được xác định là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Người bị yêu cầu tuyên bố đã chết là ông Nguyễn Th có nơi cư trú cuối cùng tại phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng (Cũ là tổ 05 Đ, quận N, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng). Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

[1.2] Về việc tham gia phiên họp dân sự: Việc dân sự thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp theo khoản 2 Điều 21 và khoản 1 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về việc việc vắng mặt của người tham gia phiên họp: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự theo thủ tục chung.

Về nội dung yêu cầu:

Bà Trương Thị H và ông Nguyễn Th chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1976. Đến năm 1982, ông Nguyễn Th đi đánh cá và biệt tích cho đến nay không có tin tức gì. Việc ông Nguyễn Th vắng mặt, không còn sinh sống tại tổ 05 Đ, quận N, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1982 được địa phương nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Th xác nhận. Theo Quyết định số: 01/2022/TB-TA ngày 08.02.2022, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã tiến hành đăng phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đã hết thời hạn thông báo mà vẫn không có tin tức xác thực là ông Nguyễn Th còn sống.

Tại Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Tính đến thời điểm bà Trương Thị H nộp đơn yêu cầu, thì thời gian ông Nguyễn Th biệt tích đã đảm bảo theo quy định. Do đó, bà Trương Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Th đã chết là có căn cứ cần được chấp nhận.

Ông Nguyễn Th không còn sinh sống tại địa phương từ năm 1982 được Công an phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xác nhận nên thời hạn để xác định biết được tin tức cuối cùng làm năm 1982 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, ngày chết của ông Nguyễn Th được xác định là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng là ngày 01.01.1983. Các quan hệ về hôn nhân, gia đình; quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Th được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của ông Nguyễn Th (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng phát, thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết do bà Trương Thị H chịu và đã thực hiện xong.

Về lệ phí: Bà Trương Thị H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp lệ phí. Xét đơn yêu cầu miễn lệ phí giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 4; khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ Điều 16 của Nghị quyết này, chấp nhận cho bà Trương Thị H được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị H, tuyên bố ông Nguyễn Th đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Tòa án cần được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149, 370, 371, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 68, 71, 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Trương Thị H.

1. Tuyên bố ông Nguyễn Th, sinh năm 1955. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 05 Đ, quận N, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Nay là phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng đã chết kể từ ngày 01.01.1983.

2. Hậu quả pháp lý: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Th được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của ông Nguyễn Th (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí: Bà Trương Thị H được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ