- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bà K"R trach chấp đất với ông Nguyễn H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Bà K’R.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải; Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải; Điều 219 Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2022/QĐ-PT | Lâm Đồng, ngày 29 tháng 11 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Nguyễn Thành Tâm
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự số 131/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022; Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn:
1/ Bà K’R, sinh năm: 1958; cư trú tại số 41, thôn C, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2/ Bà K’D, sinh năm: 1955; cư trú tại số 38, thôn C, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3/ Ông K’D, sinh năm: 1962; cư trú tại thôn Mrăng, xã Lạc Lâm, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
4/ Bà K’D, sinh năm: 1966; cư trú tại số 35, thôn C, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp của Bà K’R, Bà K’D, Ông K’D, Bà K’D: Ông Hoàng Kim Ph, sinh năm: 1959; cư trú tại số 20, thôn 4, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 87, SCT/CK, CĐ do Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng chứng thực ngày 25/4/2019).
Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm: 1952; cư trú tại số 56, quốc lộ 20, thôn Phú Tân, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Quốc lộ 20, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2/ Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Quốc lộ 20, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3/ Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1952;
4/ Anh Nguyễn Thế H, sinh năm: 1981;
5/ Anh Nguyễn Thế H, sinh năm: 1982;
6/ Chị Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1984;
Cùng cư trú tại số 56, quốc lộ 20, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tại đơn kháng cáo ngày 10/10/2022, Bà K’R đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nói trên, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
XÉT THẤY:
- Theo đơn khởi kiện của Bà K’R, bà K’D, Ông K’D và Bà K’D; lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm của Ông Hoàng Kim Ph, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, thì: Bà K’Đ có 04 người con gồm K’R, Bà K’D, Ông K’D và Bà K’D, vào ngày 22/11/1973 bà K’Đ được chế độ Việt Nam Cộng hòa cấp đất với tổng diện tích là 50.000m2, tọa lạc tại thôn Buôn T, Tam Bor, xã N’, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, năm 1983 thì bà K’Đ chết.
Sau đó Ông Nguyễn H, bà Nguyễn Thị Gi, ông Nguyễn S, bà Nguyễn Thị C lấn chiếm 10.000m2, hiện nay ông Hào đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.080m2 (trong đó có 400m2 đất ở và 680m2 đất trồng cây hàng năm khác), thuộc thửa 275, tờ bản đồ số 06 (299), tọa lạc tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB 398803 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/3/2005 cho Ông Nguyễn H đối với diện tích đất 1.080m2, thuộc thửa 275, tờ bản đồ số 06 (299), tọa lạc tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, buộc ông Hào phải tháo dỡ toàn bộ nhà cửa, công trình trên đất trả lại diện tích đất lấn chiếm.
- Theo lời trình bày của Ông Nguyễn H thì: lô đất mà nguyên đơn tranh chấp có nguồn gốc do ông có đơn xin khai hoang vào năm 1981, được Ủy ban nhân dân xã Ph chứng thực ngày 18/12/1981. Sau khi khai hoang ông sử dụng đất ổn định, từ năm 1992 đến năm 1997 thì ông K’Th tranh chấp với ông, sau đó Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 152/QĐ-UB ngày 14/4/1997 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông K’Th. Đến ngày 07/11/1997 Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 1619/QĐ-UB về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Ya Than, không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Ya Than, giữ nguyên Quyết định số 152/QĐ-UB ngày 14/4/1997 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông K’Th (con của ông Ya Than).
Ngày 30/6/1997 ông K’Th bị Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử 24 tháng tù về tội hủy hoại tài sản công dân liên quan đến diện tích đất 1.080m2, thuộc thửa 275, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã P, huyện Đ, Bản án phúc thẩm xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Ngày 02/3/2005 Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông và ông đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, quá trình sử dụng đất thì ông đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nhà nước. Nay nguyên đơn có đơn khởi kiện đòi lại đất thì ông không đồng ý.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có văn bản trình bày: Năm 1997 ông K’Th (con của ông Ya Than) có đơn khiếu nại tranh chấp Quyền sử dụng đất với Ông Nguyễn H. Sau khi tiếp nhận đơn, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã giao các ngành chức năng kiểm tra, ngày 14/4/1997 Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 152/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông K’Th về việc tranh chấp với Ông Nguyễn H, với nội dung; không thừa nhận việc xin lại đất cũ của ông K’Th, lý do đất không sử dụng, không xác định rõ vị trí và hiện nay đã giao cho người khác sử dụng ổn định. Giao Ủy ban nhân dân xã Ph chủ trì giải quyết việc ông K’Th đập phá nhà trái phép của Ông Nguyễn H và kết hợp với Phòng địa chính huyện để cân đối lại diện tích đất sử dụng thực tế của Ông Nguyễn H so với mức bình quân địa phương để tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện xử lý. Trong quá trình tranh chấp đất ông K’Th có hành vi đập phá nhà của của Ông Nguyễn H nên bị Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử về tội phá hoại tài sản của công dân. Sau đó ông Ya Than, cha của ông K’Th, có đơn tiếp khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện Đ. Ngày 07/11/1997 Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 1679/QĐ-UBND về việc không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Ya Than đòi lại đất cũ tại xã Phú Hội vì không xuất trình được các giấy tờ liên quan để xác định diện tích đất nói trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp trước đây của gia đình ông. Mặt khác diện tích đất này bỏ không sử dụng từ năm 1975, chính quyền địa phương đã quản lý giao cho các hộ khác sử dụng ổn định theo Luật đất đai. Giữ nguyên Quyết định số 152/QĐ-UB ngày 14/4/1997 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông K’Th.
Năm 2005 Bà K’R tiếp tục có đơn khiếu nại Ông Nguyễn H lấn chiếm đất của gia đình bà. Ngày 08/6/2005 Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Văn bản số 770/UB về việc trả lời đơn khiếu nại của Bà K’R, trên cơ sở giải quyết đơn của Ủy ban nhân dân huyện Đ và báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Ph về kết quả phân chia đất cho từng hộ, ngày 28/4/2004 Ông Nguyễn H có đơn xin đăng ký kê khai để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.080m2, thuộc thửa 275, tờ bản đồ số 06, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 02/3/2005 hộ Ông Nguyễn H được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên.
- Theo lời trình bày của Bà Trần Thị Đ thì: Năm 1981 vợ chồng bà công tác tại Phòng giáo dục huyện Đ, có làm đơn xin khai hoang đất để làm nhà, lập vườn để cải thiện đời sống, đơn đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ chấp thuận vào tháng 12/1981. Năm 1992 ông K’Th nhiều lần chặt phá trái phép cây lâu năm trên đất, được Ủy ban nhân dân các cấp giải quyết nhiều lần, các Quyết định giải quyết đều không thừa nhận đất của ông K’Th, do đất bỏ hoang không sử dụng từ năm 1975, chính quyền địa phương đã quản lý và giao đất cho các hộ khác sử dụng, không xuất trình được giấy tờ liên quan đến nguồn gốc đất. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/HS-ST ngày 30/6/1997 của Tòa án nhân dân huyện Đ và Bản án số 44/HS-PT ngày 26/9/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xác định diện tích đất là do Ông Nguyễn H khai hoang, chưa có ai khai phá. Căn cứ vào đơn xin khai hoang và Quyết định nói trên, vợ chồng bà đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và sử dụng đất ổn định, liên tục từ đó cho đến nay, đóng thuế cho nhà nước theo quy định. Nay nguyên đơn có đơn khởi kiện đòi lại đất thì bà không đồng ý.
- Ông Nguyễn Thế Hiếu, ông Nguyễn Thế Hùng, bà Nguyễn Thanh Hằng thống nhất lời trình bày của vợ chồng ông Hào, bà Đào, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Qua xem xét thì thấy rằng:
Về nguồn gốc diện tích Quyền sử dụng đất: Quá trình giải quyết vụ án Bà K’R, Bà K’D, Ông K’D, Bà K’D trình bày nguồn gốc đất là của bà K’Đ có tổng diện tích là 50.000m2, tọa lạc tại thôn Buôn T, Tam Bor, xã N’, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được chế độ Việt Nam Cộng hòa cấp ngày 22/11/1973 mang tên K’Đ. Theo Ông Nguyễn H trình bày nguồn gốc đất là do ông có đơn xin khai hoang vào năm 1981, được Ủy ban nhân dân xã Ph chứng thực ngày 18/12/1981 và đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB398803 ngày 02/3/2005 mang tên hộ Ông Nguyễn H.
Năm 1997 ông K’Th tranh chấp đất với ông Hào, ngày 14/4/1997 Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 152/QĐ-UB về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông K’Th. Đến ngày 07/11/1997 Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 1679/QĐ-UB về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Ya Than (cha của ông K’Th) với nội dung không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Ya Than đòi lại đất cũ tại xã P, huyện Đ vì ông Ya Than không xuất trình được các giấy tờ liên quan để xác định diện tích đất nói trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp trước đây của gia đình ông. Mặt khác diện tích đất này bỏ không sử dụng từ năm 1975, chính quyền địa phương đã quản lý giao cho các hộ khác sử dụng ổn định theo khoản 2 Điều 2 Luật đất đai năm 1993 do đó đã giữ nguyên Quyết định số 152/QĐ-UB ngày 14/4/1997 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Năm 2005 Bà K’R tiếp tục có đơn khiếu nại Ông Nguyễn H lấn chiếm đất của gia đình bà. Ngày 08/6/2005 Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Văn bản số 770/UB về việc trả lời đơn khiếu nại của Bà K’R.
Như vậy việc tranh chấp nói trên đã được giải quyết bằng Quyết định đã có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền. Nay Bà K’R, Bà K’D, Ông K’D, Bà K’D lại tiếp tục tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất nói trên với Ông Nguyễn H; Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do: “sự việc đã được giải quyết bằng Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật” là đúng quy định.
Do vậy việc kháng cáo của K’Roi là không có căn cứ chấp nhận; cần giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nói trên.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Dân sự phúc thẩm cho Bà K’R do là người cao tuổi.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Bà K’R.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự số 131/2022/QĐST-DS ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về án phí: miễn án phí Dân sự phúc thẩm cho Bà K’R.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Phòng KT-NV & THA (01); - TAND huyện Đ (02); - Chi cục THADS huyện Đ (02); - Đương sự (11); - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Huỳnh Châu Thạch |