vanban.org

Quyết định 10/2021/QĐST-HC — Hành chính

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 12/07/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 38/2020/TLST- HC ngày 13 tháng 11 năm 2020 về “Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa

Người khởi kiện: Ông Trần Thành Đ, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn T (thôn T cũ), xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thành Đ: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1959 (Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2020 của ông Trần Thành Đ) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Trần Thành Đ - UBND huyện L"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 38/2020/TLST- HC ngày 13 tháng 11 năm 2020 về “Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2021/QĐST - HCVĩnh Phúc, ngày 12 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Hành chính sơ thẩm thụ lý số 38/2020/TLST- HC ngày 13 tháng 11 năm 2020;

Xét thấy: Ngày 19/10/2020 và ngày 04/11/2020 ông Trần Thành Đ có đơn khởi kiện vụ án hành chính, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BP 472330 do UBND huyện L cấp ngày 11/9/2013 đứng tên bà Trần Thị N đối với thửa đất số 273.1, tờ bản đồ số 05, diện tích 385m2, địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Thời gian gần đây khi kiểm tra “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ông mới biết diện tích đất đất gia đình ông đang quản lý, sử dụng đã bị ai đó làm các thủ tục đăng ký thay đổi biến động trong giấy chứng nhận. Cụ thể: Sự thay đổi đó được thể hiện tại trang 04, mục IV của giấy chứng nhận:

“- Ngày 04/9/2013: bà Trần Thị N sinh năm 1983 và ông Phạm Xuân P sinh năm 1959 số CMTND 135128021 cấp ngày 30/11/2006 nơi cấp Công an Vĩnh Phúc, địa chỉ thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 273.1, diện tích ONT = 100m2, LNK = 285m2 tờ bản đồ số 05. Theo hợp đồng số 388 ngày 01/7/2013.

- Ngày 23/5/2017 thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Phòng giao dịch T Ngân hàng NN & PTNT chi nhánh huyện L, Vĩnh Phúc theo HĐTC số 316076393/HĐTC/2017 ngày 23/5/2017 theo hồ sơ số 615;

- Ngày 10/7/2017 đã xóa nội dung đăng ký thế chấp ngày 23/5/2017 theo hồ sơ số 817”.

Nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thành Đ khai, từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Đ là người trực tiếp quản lý “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số AP 453642. Ngày 23/5/2017 ông Đ có ký hợp đồng tín dụng số 2808-LVA- 2017. 01792 để vay số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) chi nhánh L - Phòng giao dịch T. Cùng ngày 23/5/2017 ông và bà Nguyễn Thị D (vợ ông) có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với Ngân hàng Agribank. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích là 582m2 của thửa đất số 273, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên hộ ông Trần Thành Đ. Ông Đ là người trực tiếp nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AP 453642 cho ngân hàng quản lý khi thế chấp quyền sử dụng đất và 05 tháng sau khi đã trả xong nợ thì ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AP 453642 cho ông Đ. Hiện nay ông Đ đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Tại trang bổ sung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L có ghi ngày thế chấp là ngày 23/5/2017, ngày xóa thế chấp là ngày 10/7/2017. Tổng diện tích của thửa đất 273 là 967m2, nhưng ngân hàng chỉ nhận thế chấp diện tích 582m2 vì không tính diện tích 100m2 ONT và 285m2 LNK đã đứng tên chị Trần Thị N thể hiện ở trang cuối giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, có cơ sở để khẳng định ông Trần Thành Đ là người quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ Trần Thành Đ. Năm 2017 khi ông vay tiền ngân hàng nên ông mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho ngân hàng vay tiền. Chính ông trình bày chỉ thế chấp 582m2 vì không tính diện tích 100m2 ONT và 285m2 LNK đã đứng tên chị Trần Thị N thể hiện ở trang cuối giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Rõ ràng, ít nhất là từ năm 2017 ông đã biết chị Trần Thị N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 100m2 ONT và 285m2 LNK đối với thửa đất số 273.1, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc được tách ra từ thửa đất số 273, tờ bản đồ số 05, diện tích 967m2, địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên hộ ông Trần Thành Đ do ông quản lý. Đại diện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) chi nhánh L – Phòng giao dịch T cũng khẳng định ông Đ là người trực tiếp giao dịch vay vốn, thế chấp tại ngân hàng. Chính bà Nguyễn Thị D (vợ ông Đ) cũng khẳng định ngày 23/5/2017 ông Đ có ký hợp đồng tín dụng số 2808-LVA- 2017. 01792 để vay số tiền là 200.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh L - Phòng giao dịch T, cùng ngày 23/5/2017 bà và ông Đ ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với Ngân hàng. Do vậy, đơn khởi kiện của ông trình bày gần đây mới biết hiện nay nhà đất ông đang sử dụng, một phần bị đứng tên người khác là không có căn cứ và đến ngày 19/10/2020 ông Trần Thành Đ mới khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BP 472330 do UBND huyện L cấp ngày 11/9/2013 đứng tên bà Trần Thị N đối với thửa đất số 273.1, tờ bản đồ số 05, diện tích 385m2, địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là quá thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính, thuộc trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 38/2020/TLST- HC ngày 13 tháng 11 năm 2020 về “Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa

- Người khởi kiện: Ông Trần Thành Đ, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn T (thôn T cũ), xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thành Đ: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1959 (Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2020 của ông Trần Thành Đ)

Địa chỉ: Số 22, ngõ 221, đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Thành Đ là: Ông Nguyễn Ngọc H – Luật sư Công ty Luật hợp danh T.

Địa chỉ: Số 22, ngõ 221, đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người bị kiện: UBND huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Tuệ M1- Chủ tịch UBND huyện.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T (thôn T cũ), xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị D: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1959 (Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2021 của bà Nguyễn Thị D).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị D là: Ông Nguyễn Ngọc H - Luật sư Công ty Luật hợp danh T.

Địa chỉ: Số 22, ngõ 221, đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội.

+ Chị Trần Thị H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Chị Trần Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T (thôn T cũ), xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Chị Trần Thị H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu 9, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.

+ Chị Trần Thị Thanh V, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.

- Về án phí hành chính sơ thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cỡ chữ