vanban.org

Quyết định 10/2021/QĐST-DS — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều 609, Điều 611, Điều 613, khoản 2 Điều 623 và khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C. Công nhận bà Trần Thị C là người thừa kế theo pháp luật, thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2, sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020). Bà Trần Thị C được hưởng di sản thừa kế của bà Trần Thị Lan H2 để lại theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Công nhận hàng thừa kế thứ hai"
  • Tòa quyết gì? Điều 609, Điều 611, Điều 613, khoản 2 Điều 623 và khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2021/QĐST-DS
Ngày: 25/10/2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận hàng thừa kế theo pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Văn Hứng – Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên.

Các ngày 18 và 25 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2021/TLST-VDS ngày 05 tháng 01 năm 2021 về yêu cầu công nhận hàng thừa kế theo pháp luật, theo Quyết định mở phiên họp số: 596/2021/QĐXHST-VDS ngày 01 tháng 10 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Trần Thị C, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Số 18, khu vực T, phường L, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền:

1/ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

2/ Ông Hồ Hiếu T2, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Số 313E, đường V, phường A, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 27/7/2020).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1960 (có mặt ngày 18/10/2021; ngày 25/10/2021 có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Số 25, đường S, phường T, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn yêu cầu ngày 18/12/2020, người yêu cầu bà Trần Thị C trình bày: Bà Trần Thị Lan H2, sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020) là chị ruột của bà. Bà và bà Trần Thị Lan H2 có cha là ông Trần Văn U, mẹ là bà Nguyễn Thị S (đều đã chết). Bà Hương sống độc thân, không có chồng con và chết ngày 30/5/2020.

Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án công nhận là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2.

- Theo Biên bản làm việc ngày 10/3/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh H trình bày: Bà với bà Trần Thị Lan H2, bà Trần Thị C có mối quan hệ họ hàng cô cậu ruột, cha của bà H2 với bà C là anh ruột của mẹ bà (bà Trần Thị B). Bà Trần Thị Lan H2 và bà Trần Thị C là chị em ruột, có cha là ông Trần Văn U (liệt sĩ), mẹ ruột bà Trần Thị S (chết năm 1988), gia đình chỉ có hai chị em ruột. Khi còn sống, bà Trần Thị Lan H2 sống độc thân, không chồng, không có con ruột cũng như con nuôi.

Từ nhỏ đến lớn và cho đến khi mẹ ruột bà là bà Trần Thị B chết thì bà đều sống chung với bà Trần Thị Ba nên biết rõ giữa mẹ ruột của bà với bà Trần Thị Lan H2 chỉ là cô cháu, không có việc bà Trần Thị B nhận bà Trần Thị Lan H2 làm con nuôi.

Tại phiên họp:

- Đại diện người yêu cầu ông Hồ Hiếu T2 trình bày: Bà Trần Thị Lan H2 sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020) và bà Trần Thị C là chị em ruột, có cha là ông Trần Văn U (liệt sĩ), mẹ ruột bà Trần Thị S (chết năm 1988), gia đình chỉ có hai chị em ruột. Khi còn sống, bà Trần Thị Lan H2 sống độc thân, không chồng, không có con ruột cũng như con nuôi. Vì vậy, đề nghị công nhận bà Trần Thị C là người thừa kế theo pháp luật, thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2, sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020). Bà Trần Thị C được hưởng di sản thừa kế của bà Trần Thị Lan H2 để lại theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên họp ngày 18/10/2021, bà Trần Thị Thanh H trình bày: Thống nhất với trình bày của người yêu cầu. Ngoài ra, lúc bà Trần Thị Lan H2 còn nhỏ để thuận tiệc cho việc đi học thì có ghi lý lịch bà Trần Thị B là mẹ nuôi nhưng thực tế là không có. Vì thời điểm này, cha ruột bà Trần Thị Lan H2 là ông Trần Văn U tham gia cách mạng nên phải ghi mẹ ruột của bà (cô ruột bà Trần Thị Lan H2) là mẹ nuôi. Tuy nhiên, giữa hai người không có chung sống với nhau cũng không có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng giữa mẹ nuôi, con nuôi.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán phụ trách giải quyết việc dân sự thực hiện đúng quy định pháp luật về phiên họp dân sự. Việc thu thập chứng cứ của Tòa án, việc cung cấp chứng cứ của đương sự đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung, đề nghị Tòa án áp dụng Điều 48, 49, 51, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

Quan hệ pháp luật: Bà Trần Thị C yêu cầu Tòa án công nhận là người thừa kế duy nhất, thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2, quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu công nhận hàng thừa kế theo pháp luật”. Yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo khoản 10 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thủ tục tố tụng:

Tại phiên họp ngày 25/10/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh H có văn bản đề nghị xét họp vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu đã thay đổi một phần yêu cầu, theo đó đề nghị Tòa án công nhận bà Trần Thị C là người thừa kế theo pháp luật, thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2, sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020) và bà Trần Thị C được hưởng di sản thừa kế của bà Trần Thị Lan H2 để lại theo quy định của pháp luật. Xét việc thay đổi một phần yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền cho bà Trần Thị C là vẫn thuộc phạm vi yêu cầu ban đầu, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Nội dung:

Bà Trần Thị Lan H2 nguyên là cán bộ Phòng Cảnh sát đường thủy, Công an thành phố Cần Thơ. Tại sơ yếu lý lịch cán bộ của bà Trần Thị Lan H2 (do Phòng Tổ chức cán bộ, Công an thành phố Cần Thơ cung cấp) thể hiện bà có cha ruột là ông Trần Văn U (Tấn Nghĩa) là liệt sĩ, mẹ ruột là bà Nguyễn Thị S, mẹ nuôi là bà Trần Thị B và em ruột là bà Trần Thị Thu H (C) “Sống bằng nghề: hộ sinh ở Ô Môn, tỉnh Cần Thơ”; không có chồng, con ruột cũng như con nuôi.

Tại Tờ tường trình ngày 11/3/2021 của bà Trần Thị C (BL 51) có nội dung: “Trước năm 1994 khóa học tại Bệnh viện Ô Môn, khi ra trường công tác tại Trạm Y tế xã Tân Thới. Công tác được 05 năm, lấy chồng nghỉ luôn. Nghề chuyên môn: hộ sinh. Sau này đổi Tân Thới lại thành Trường Lạc, Ô Môn, TP.Cần Thơ”. Tường trình của bà Trần Thị C được Trạm Y tế phường Trường Lạc xác nhận: “Theo Tờ trình của chị Trần Thị C, trước là hộ sinh làm việc tại Trạm Y tế Tân Thới là sự thật”.

Thông báo kết luận giám định số: 527 ngày 27/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Cần Thơ (BL 17) đã kết luận: “Bà Trần Thị C có liên quan huyết thống theo dòng mẹ với Trần Thị Lan H2”.

Hơn nữa, theo Giấy khai sinh của bà Trần Thị C (BL 12) thể hiện cha ruột ông Trần Văn U (đã chết), mẹ ruột bà Nguyễn Thị S (đã chết). Đồng thời, theo Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ cấp cho liệt sĩ Trần Văn U (BL 08), quan hệ liệt sĩ gồm có: Bà Nguyễn Thị S (vợ); bà Trần Thị C (con).

Ngoài ra, theo trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh H đã xác định giữa bà Trần Thị B (mẹ ruột bà) với bà Trần Thị Lan H2 không có quan hệ mẹ nuôi, con nuôi. Đồng thời, bà Trần Thị Lan H2 với bà Trần Thị C là chị em ruột, có cha là ông Trần Văn U (liệt sĩ), mẹ ruột bà Trần Thị S (chết năm 1988), gia đình chỉ có hai chị em ruột. Khi còn sống, bà Trần Thị Lan H2 sống độc thân, không chồng, không có con ruột cũng như con nuôi.

Bên cạnh đó, sau khi thụ lý yêu cầu của bà Trần Thị C, Tòa án đã tiến hành Thông báo tìm kiếm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai của bà Trần Thị Lan H2 trên các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, phát sóng trên Đài phát thanh của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Đến thời điểm hiện tại đã hơn 06 tháng nhưng không có bất kỳ cá nhân nào đến Tòa án để khai nhận thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai của bà Trần Thị Lan H2.

Từ những phân tích nêu trên, đủ cơ sở chứng minh giữa bà Trần Thị Lan H2 với bà Trần Thị C có mối quan hệ là chị em ruột. Vì vậy, Tòa án thống nhất theo quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C.

Về lệ phí xét việc dân sự: Bà Trần Thị C phải chịu 300.000 đồng.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Nội dung giải quyết: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu của bà Trần Thị C nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 5, khoản 10 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 40, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 609, Điều 611, Điều 613, khoản 2 Điều 623 và khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C.

Công nhận bà Trần Thị C là người thừa kế theo pháp luật, thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Trần Thị Lan H2, sinh năm 1961 (chết ngày 30/5/2020). Bà Trần Thị C được hưởng di sản thừa kế của bà Trần Thị Lan H2 để lại theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí xét việc dân sự: Bà Trần Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng bà Cúc đã nộp theo biên lai thu số 003454 ngày 13/12/2020 thành lệ phí phải nộp, bà Cúc không phải nộp thêm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo khoản 2 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự đối với những quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ