vanban.org

Quyết định 10/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Ngô Đình C đối với chị Lường Thị K.

Xử cho anh Ngô Đình C được ly hôn chị Lường Thị K Về con chung: Giao cháu Ngô Diệu Anh T, sinh ngày 03/12/2015 và Ngô Diệu Cẩm N, sinh ngày 23/7/2018 cho anh Ngô Đình C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Cường xin ly hôn chị Kiều"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Ngô Đình C đối với chị Lường Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 3 năm 2021
V/v : Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Toàn

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Cương

2. Ông Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020 về việc Xin ly hôn - Theo quyết định xét xử số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 10 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Đình C - Sinh năm 1995; Trú tại: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặ tại phiên toàt.

- Bị đơn: Chị Lường Thị K - Sinh năm 1996; Trú tại: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 12 năm 2020, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án anh Ngô Đình C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lường Thị K kết hôn từ năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã; sau khi kết hôn vơj chồng về sống chung cùng gia đình anh tại bản Tiên Cang, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp. Chị K đã bỏ về sống cùng bố mẹ đẻ tại tổ dân phố 1 thị trấn Sông Mã từ tháng 4/2020 cho đến nay không quay về. Anh thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên xin được ly hôn với chị Kiều.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Ngô Diệu Anh T, sinh ngày 03/12/2015 và Ngô Diệu Cẩm N, sinh ngày 23/7/2018, khi bỏ nhà đi chị K có mang theo hai con về nhà bố mẹ đẻ, nhưng sau đó chị K gửi con cho bà nội của chị chăm sóc các con (do chị K và bố mẹ chị K đều đi làm thuê ở xa). Nay anh đã đón hai con về chăm sóc, hiện hai con đang ở cùng anh. Anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục hai con, không yêu cầu chị Kiều cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Đối với chị Lường Thị K: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị. Chị K đã được nhận và biết những giấy tờ, thông báo của Tòa án, nhưng chị K không đến, nên Toà án không thể nắm bắt được nguyện vọng của chị về việc anh C xin ly hôn và việc người trực tiếp nuôi con. Toà án cũng không thểtiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của pháp luật, tuy nhiên không hợp tác để giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin được xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt các thủ tục theo quy định, tuy nhiên không hợp tác để giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết: Đề nghị xử cho anh Ngô Đình C được ly hôn chị Lường Thị K; Giao hai con chung Ngô Diệu Anh T và Ngô Diệu Cẩm N cho anh Ngô Đình C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không có, không đề nghị giải quyết nên không xem xét trong vụ án này. Buộc anh C chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền tố tụng: Bị đơn chị Lường Thị K có hộ khẩu thường trú và cư trú tại bản Tiên Cang, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La thụ lý, giải quyết là đảm bảo theo quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

- Đối với Nguyên đơn: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, yêu cầu chị Lường Thị K đến Tòa án để thực hiện các thủ tục tố tụng nhưng chị K không chấp hành. Việc vắng mặt của bị đơn Tòa án xác định là do cố tình trốn tránh, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án. Dó đó, Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Đình C và chị Lường Thị K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng tháng 4/2020 cho đến nay, hiện nay không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Căn cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, xét thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho anh, chị ly hôn là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Ngô Đình C và chị Lường Thị K có hai con là Ngô Diệu Anh T, sinh ngày 03/12/2015 và Ngô Diệu Cẩm N, sinh ngày 23/7/2018 hiện hai cháu đang do anh C trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Theo ý kiến của gia đình chị K, chị K có nguyện vọng muốn trực tiếp nuôi một con, tuy nhiên đây chỉ là ý kiến của gia đình chị K, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập chị K nhiều lần nhưng chị K đều không hợp tác đến làm việc để thể hiện quan điểm của mình; mặt khác chị K cũng thường xuyên vắng nhà. Do vậy để đảm bảo mọi quyền lợi các cháu, để cháu phát triển trong điều kiện tốt nhất, cần chấp nhận đề nghị của anh Ngô Đình C, để anh C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục các con, chị K có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh C không yêu cầu, nên chị K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Đình C khai nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Anh C là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 55; 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Ngô Đình C đối với chị Lường Thị K.

Xử cho anh Ngô Đình C được ly hôn chị Lường Thị K

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Diệu Anh T, sinh ngày 03/12/2015 và Ngô Diệu Cẩm N, sinh ngày 23/7/2018 cho anh Ngô Đình C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật.

Chị Lường Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị K có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Anh Ngô Đình C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lại số AA/2019/0001543, ngày 09 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Anh Ngô Đình C đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Ngô Đình C và chị Lường Thị K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ