- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Lê Thị Đ - Nguyễn Thị N"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2020/QĐST-VDS | N, ngày 24 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Quân
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký TAND quận N
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên họp: Bà Lê Hoàng Dung - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 184/2020/TLST-VDS ngày 24 tháng 6 năm 2020 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 184/2020/QĐST-VDS ngày 08 tháng 7 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1965.
Địa chỉ: 31/1D đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1946.
Địa chỉ: 125/24/14 đường H1, phường A1, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Bà Lê Thị Ánh N2, sinh năm 1970;
2) Bà Lê Thị H, sinh năm 1972.
Cùng đăng ký thường trú: 125/24/14 đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai mà bà Đ đã trình bày:
Cha bà tên Lê Hữu T3, sinh năm 1945 (đã mất năm 2017 theo trích lục khai tử ngày 18/9/2017), mẹ bà là bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1946. Cha mẹ bà có 03 người con ( Lê Thị Đ, Lê Thị Ánh N2, Lê Thị H).
Hiện nay, mẹ bà là bà Nguyễn Thị N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời cử bà Lê Thị Ánh N2 là người giám hộ cho bà N1 theo quy định.
Tại phiên họp:
Bà Lê Thị Đ trình bày: Vào ngày 31/3/2020 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận:
- Về y học: Hiện tại bà N1 có bệnh lý tâm thần, mất trí trong bệnh mạch máu (F01-ICD10).
- Về năng lực: Hiện tại bà N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Hiện tại, bà Lê Thị Ánh N2 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc bà N1. Theo xác nhận của Công an phường An Cư và Uỷ ban nhân dân phường An Cư, quận N, thành phố Cần Thơ ngày 09/7/2020 thì bà N2 có đủ điều kiện để giám hộ cho bà N1. Vì các lý do trên, đề nghị tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của bà. Tuyên bố bà Nguyễn Thị N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời cử bà Lê Thị Ánh N2 làm người hộ cho bà Nguyễn Thị N1 theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ánh N2 và bà Lê Thị H trình bày: Bà N2 và bà H thống nhất với yêu cầu của bà Lê Thị Đ. Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của bà Đ. Tuyên bố bà Nguyễn Thị N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời cử bà Lê Thị Ánh N2 làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị N1 theo quy định pháp luật vì hiện tại bà N2 là người trực tiếp nươi dưỡng, chăm sóc bà N1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N phát biểu quan điểm: Bà Nguyễn Thị N1 đang cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân quận N thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Xét thấy, theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 87/2020/KLGĐYC ngày 31/3/2020 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đã kết luận, hiện tại bà Nguyễn Thị N1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Bà Nguyễn Thị N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, việc tuyên bố bà Nguyễn Thị N1 khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ.
Đối với việc bà Lê Thị Đ yêu cầu Tòa án chỉ định bà Lê Thị Ánh N2 là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị N1, xét thấy bà Lê Thị Ánh N2 đủ điều kiện làm người giám hộ của bà Nguyễn Thị N1 theo quy định tại Điều 49, 53 Bộ luật dân sự. Do đó yêu cầu của bà Đ là có cơ sở chấp nhận.
Bởi các lẽ trên đề nghị Tòa án nhân dân quận N áp dụng Điều 369, 370, 376, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận N nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị N1 đang cư trú tại quận N, nên yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Đ đối với bà N1 sẽ do Bộ luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu: Bà N1 với bà Đ, bà N2 là mẹ con ruột. Bà N1 đang sinh sống cùng bà N2. Hiện tại, bà N1 bị rối loạn tâm thần, mất trí nhớ trong bệnh mạch máu. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 87/2020/KLGĐYC ngày 31/3/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận hiện tại bà Nguyễn Thị N1 hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc tuyên bố bà N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự.
Đối với việc bà Đ yêu cầu Tòa án chỉ định bà Lê Thị Ánh N2 là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị N1, nhận thấy bà Lê Thị Ánh N2 đã đủ điều kiện trở thành người giám hộ cho bà Nguyễn Thị N1 theo quy định tại Điều 49, 53 Bộ luật dân sự. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất tuyên bố bà N1 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử bà Lê Thị Ánh N2 làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị N1. Do đó, yêu cầu của bà Đ có cơ sở chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự, người yêu cầu phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 361, Điều 370; Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 23. Điểu 57, Điều 58, Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Đ: Tuyên bố bà Nguyễn Thị N1 khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Cử bà Lê Thị Ánh N2 làm người giám hộ cho bà Nguyễn- Thị N1 theo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị Ánh N2 có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với bà Nguyễn Thị N1 theo quy định tại Điều 57, Điều 58 và Điều 59 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Đ phải chịu 300.000đồng (Ba trăm N1 đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà Đ đã nộp theo Biên lai thu số 002657 ngày 09/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Cần Thơ.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND Q. N; - TAND TP.Cần Thơ; - THA DS Q. N; - UBND Phường A; - Lưu: HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp (Đã ký) Nguyễn Hồng Quân |