vanban.org

Quyết định 10/2020/QĐST-HC — Hành chính

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/07/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 26/2019/TLST-HC ngày 13 tháng 09 năm 2019 “về Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1960. Địa chỉ: Nhà 01, ngõ 67, V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. 2. Người bị kiện: UBND huyện C. Địa chỉ trụ sở: Thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1974, chủ tịch UBND huyện C. Người đại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "chi H khoi kien UBND huyen C"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 26/2019/TLST-HC ngày 13 tháng 09 năm 2019 “về Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2020/QĐST-HCPhú Thọ, ngày 20 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;

Xét thấy: Vợ chồng cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị C sinh được 05 người con gồm ông Nguyễn Anh S, bà Nguyễn Thị Lan H, ông Nguyễn Quang H, bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn N; ngày 17/12/1994 cụ Nguyễn Văn M chết không để lại di chúc gì. Tài sản của cụ M và cụ C gồm có 01 thửa đất số: 117-6, tờ bản đồ số 20, diện tích 565, 4 m2 (trong đó có 300 m2 đất ở và 265,4 m2 đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu 1, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/9/2003 đứng tên hộ cụ Trần Thị C. Ngày 26/9/2012 cụ Trần Thị C đã làm đơn xin tách tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh S 344,9 m2 đất (trong đó có 200 m2 ODT và 144,9 m2 đất LNK). Ngày 30/10/2012, UBND huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BM471208, thửa đất số: 117-6a, tờ bản đồ số 20, diện tích 344,9 m2, địa chỉ thửa đất: Khu 1, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ, thời hạn sử dụng lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Nhận quyền sử dụng đất do tặng cho quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Anh S. Việc ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ C, ông H, bà H, bà C, ông N đều biết. Đến ngày 09/8/2016, cụ Trần Thị C đã khởi kiện ông Nguyễn Anh S tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ C và ông S và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông S. Trong quá trình giải quyết vụ án, do đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không nộp tiền chi phí tố tụng nên Tòa án nhân dân huyện C đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 03/2017/QĐST – DS ngày 27/3/2017. Ngày 02/8/2019 bà Nguyễn Thị Lan H, ông Nguyễn Quang H, bà Nguyễn Thị Hồng C khởi kiện UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ và ngày 08/8/2019 bà Nguyễn Thị Lan H có đơn khởi kiện UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Anh S ngày 30/10/2012 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu 1, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ cho cụ Trần Thị C với tổng diện tích đất 565,4 m2 (trong đó có 300 m2 đất ở và 265,4 m2 đất vườn) như cũ để gia đình bà thực hiện việc chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Quá trình thu thập chứng cứ thấy rằng việc UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S thì cụ C, bà H, ông H, bà C, ông N đều biết từ năm 2012, tiếp đó đến năm 2016 cụ C khởi kiện ông S thì cụ C, bà H, ông H, bà C, ông N đều biết. Như vậy, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính quy định “Thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày biết được quyết định hành chính”. Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện đã hết.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 26/2019/TLST-HC ngày 13 tháng 09 năm 2019 “về Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

1.1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1960. Địa chỉ: Nhà 01, ngõ 67, V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

1.2. Người bị kiện: UBND huyện C. Địa chỉ trụ sở: Thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1974, chủ tịch UBND huyện C. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1974, phó chủ tịch UBND huyện C.

1.3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Cụ Trần Thị C, sinh năm 1931. Địa chỉ: Khu 1, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay đang ở với con tại: Nhà 01, ngõ 67, V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

- Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số 391, Đỗ X, phước L, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên, sinh năm 1970. Trú tại: A2-12-17 Chung cư G, 346 bến V, phường 1, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Anh S, sinh năm 1956 (đã chết). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho anh Sơn là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972 (Vợ ông S) và các con của ông S là cháu Nguyễn Anh N, sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Anh T, sinh năm 1996. Đều trú tại địa chỉ: Số 445/59/14, đường T, khu phố 9, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971. Nơi ĐKHKTT: Khu 8, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở: Tổ 15, khu 5 (trước là khu 6), phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003257 ngày 12/9/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Bà H không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án hành chính nêu trên, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án hành chính đã bị đình chỉ nêu trên về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 (Bảy) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính./.

Cỡ chữ