vanban.org

Quyết định 10/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/02/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M, tuyên bố: ông Trần Công N, sinh năm 1946; địa chỉ: 445/15 đường Q, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Dương Thị M, sinh năm 1956 là người cao tuổi nên được miễn lệ phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các đương sự có quyền kháng cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M, tuyên bố: ông Trần Công N, sinh năm 1946; địa chỉ: 445/15 đường Q, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 23/2019/TT-BYT ban hành quy trình giám định pháp…; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2020/QĐDS-ST
Ngày: 20/02/2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Lại Thị Thu Thủy

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết Việc dân sự thụ lý số: 476/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “ Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây :

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Dương Thị M; sinh năm 1956; địa chỉ: 190/41 đường Đ, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);

Đối với ông Trần Công N; sinh năm 1946; địa chỉ: 445/15 đường Q, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

a) Ông Trần Công B; sinh năm 1972; địa chỉ: 190/41 đường Đ, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);

b) Bà Trần Thúy A; sinh năm 1974; địa chỉ: Số 7.01.C1 Chung cư K, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);

c) Ông Trần Công T; sinh năm 1976; địa chỉ: 190/41 đường Đ, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Vào tháng 3/2019 chồng của bà Dương Thị M là ông Trần Công N bị bệnh suy tim và bị đột quỵ lần 2 và đang nằm điều trị tại Bệnh Viện Trưng Vương khoa điều trị theo yêu Cầu. Do ông N bị bệnh nặng và hiện tại ông N rơi vào tình trạng “hôn mê sâu phải sống đời sống thực vật”, không có ý thức, không nhận biết được, do đó bà Dương Thị M làm đơn yêu cầu Tòa án Tuyên bố ông Trần Công N là người bị mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11 nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ vào đơn yêu cầu của Bà Dương Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Công N, sinh năm 1946; địa chỉ: 445/15 đường Q, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự; đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 11 theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về việc giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngày 28/12/2019, bà Dương Thị M, Trần Công B, Trần Thị Thúy A và Trần Công T có đơn đề nghị Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt họ. Căn cứ Khoản 2, Khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu của đương sự

Căn cứ vào đơn yêu cầu, bản tự khai của Bà Dương Thị M, bản tự khai của các con của bà M và ông N (Trần Công B, Trần Thị Thúy A và Trần Công T) đều cùng có ý kiến thống nhất yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Công N là người bị mất năng lực hành vi dân sự do ông N bị đột quỵ rơi vào tình trạng “hôn mê sâu phải sống đời sống thực vật”, không có ý thức, không nhận biết được.

Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần số 6747/KLGĐ ngày 23/12/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, có kết luận như sau:

Căn cứ Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới về rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD-10), căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy trình Giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần:

Về y học: Đương sự bị sa sút tâm thần trong bệnh mạch máu não, mức độ nặng (F01-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Cơ sở pháp luật để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự:

Theo Khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “ khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Từ những căn cứ trên, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà Dương Thị M tuyên bố ông Trần Công N mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm về việc tuân theo Pháp luật của Thẩm phán và ý kiến đối với yêu cầu của các đương sự: “Thẩm phán giải quyết vụ việc đúng quy định nhưng chậm Thông báo thụ lý cho Người bị yêu cầu và mở Phiên họp xét Việc dân sự đúng thời hạn so với quy định.Về yêu cầu của các đương sự: Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 11 chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Trần Công N.

Với những căn cứ trên, Tòa án nhân dân Quận 11 xét thấy có đủ cơ sở pháp lý chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M.

Về lệ phí: Bà Dương Thị M, sinh năm 1956 hiện nay trên 60 tuổi do đó được miễn chịu lệ phí việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M, tuyên bố: ông Trần Công N, sinh năm 1946; địa chỉ: 445/15 đường Q, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Dương Thị M, sinh năm 1956 là người cao tuổi nên được miễn lệ phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ