vanban.org

Quyết định 10/2020/QĐPT-DS — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/03/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 57/2019/QĐST-DS ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BN.

Về án phí phúc thẩm: Bà Ngô Thị P, Bà Hoàng Thúy L, Bà Nguyễn Thị Hồng V, Ông Nguyễn Quang Q, Ông Nguyễn Văn C, ông Võ Tiến Hùng, Bà Nguyễn Thị T, Bà Đặng Thị Thu H mỗi người phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm. Xác nhận bà Phương, bà Loan, bà Vân, ông Quý, ông Cải, ông Hùng, bà Thanh, bà Hiền mỗi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 57/2019/QĐST-DS ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BN.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2020/QĐPT-DSBN, ngày 19 tháng 3 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tính

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Ông Nguyễn Thanh Bình.

Tại quyết định chỉ giải quyết vụ án dân sự số 57/2019/QĐST-DS ngày 25/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố BN đã đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 07/2018/TLST-DS ngày 13/12/2018 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa:

- Nguyên đơn:

1. Bà Ngô Thị P, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 12, khu Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

2. Bà Hoàng Thúy L, sinh năm 1957; địa chỉ: Số 02, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

3. Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 16, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

4. Ông Nguyễn Quang Q, sinh năm 1952; địa chỉ: Số 04, Trần Quốc T, khu Đọ X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

5. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955; địa chỉ: Số 06, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

6. Anh Võ Tiến H, sinh năm 1972; địa chỉ: Số 06A, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

7. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; địa chỉ: Số 10, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

1

8. Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1968; địa chỉ: Số 28, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

- Bị đơn: Công ty TNHH Hoàng G.

Địa chỉ: Số 161, đường Ngọc Hân công C, phường Võ C, thành phố BN, tỉnh BN. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đắc Quang - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q - Cán bộ công ty.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1966;

2. Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1991;

3. Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1995;

Đều địa chỉ: Số 12, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

4. Ông Đặng Đức T, sinh năm 1956; địa chỉ: Số nhà 02, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

5. Anh Nguyễn Bá M, sinh năm 1996;

6. Cháu Vũ Huyền L, sinh năm 2001; cháu Vũ Anh T, sinh năm 2008; cháu Vũ Anh D, sinh năm 2012.

Cùng địa chỉ: Số 16, tập thể lương thực Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

7. Bà Trịnh Thị P, sinh năm 1952;

8. Anh Nguyễn Quang A, sinh năm 1990;

9. Chị Đỗ Thị Lan A, sinh năm 1990;

10. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988;

11. Cháu Nguyễn Quang M, sinh năm 2010; cháu Nguyễn Đức Đ, sinh năm 2013; cháu Nguyễn Ngô Tường V, sinh năm 2011; cháu Nguyễn Ngô Tường A, sinh năm 2017.

Cùng địa chỉ : Số 14, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

12. Bà Dương Thị N, sinh năm 1960, địa chỉ: Số 06, tập thể lương thực, Ninh xả 3, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

13. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980;

14. Cháu Võ Bảo N, sinh năm 2013.

2

Cùng địa chỉ: Số 06A, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

15. Ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1955;

16. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983;

17. Anh Nguyễn Kim D, sinh năm 1982;

18. Anh Nguyễn Kim H, sinh năm 1979;

19. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987;

20. Cháu Nguyễn Khánh L, sinh năm 2005; cháu Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2009; cháu Nguyễn Việt A, sinh năm 2010; cháu Nguyễn Việt H, sinh năm 2012.

Cùng địa chỉ: Số 10, tập thể lương Thực, Ninh X 3, thành phố BN, tỉnh BN, tỉnh BN.

21. Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1960;

22. Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1990;

23. Chị Trần Thị Kiều V, sinh năm 1992;

24. Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1995;

25. Cháu Nguyễn Minh C, sinh năm 2012.

Cùng địa chỉ: Số 28, tập thể lương t, Ninh X, phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN.

Người đại diện theo ủy quyền đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Công T - Luật sự thuộc Văn phòng luật sư Vạn An, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Số 14, ngõ 27, khu Ban, tổ 5, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 03/12/2019, các đồng nguyên đơn là: Bà Ngô Thị P, Bà Hoàng Thúy L, Bà Nguyễn Thị Hồng V, Ông Nguyễn Quang Q, Ông Nguyễn Văn C, ông Võ Tiến Hùng, Bà Nguyễn Thị T, Bà Đặng Thị Thu H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 57/2019/QĐST - DS ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BN.

XÉT THẤY:

Theo các tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập thì thấy:

Ngày 13/12/2018, đại diện 8 hộ gia đình là Bà Ngô Thị P, Bà Hoàng Thúy L, Bà Nguyễn Thị Hồng V, Ông Nguyễn Quang Q, Ông Nguyễn Văn C, ông Võ Tiến

3

Hùng, Bà Nguyễn Thị T và Bà Đặng Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Hoàng G (gọi tắt là Công ty Hoàng G) phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do công ty tiến hành phá dỡ, ép cọc làm móng “Dự án Tổ hợp trung tâm thương mại, chung cư để bán, có địa chỉ tại phường Ninh X, thành phố BN, tỉnh BN” đã vi phạm các quy định về xây dựng làm hư hỏng nhà ở của các hộ dân nêu trên, với số tiền phải bồi thường cho mỗi hộ dân 300.000.000đ, tổng cộng là 2.400.000.000đ. Nộp kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp 08 Biên bản làm việc có nội dung ghi nhận hiện trạng nhà ở riêng lẻ gần Công trình tổ hợp trung tâm thương mại và chung cư để bán tại phường Ninh X, thành phố BN. Trong Biên bản làm việc có đại diện UBND phường Ninh X, thành phố BN, Công ty Hoàng Gia, Trung tâm kiểm định chất lượng và kinh tế xây dựng thuộc Sở xây dựng tỉnh BN và đại diện các hộ dân.

Phía Công ty Hoàng Gia cho rằng khi tiến hành phá dỡ khu nhà cũ và tiến hành làm cọc thí nghiệm công ty đã được Sở xây dựng BN chấp thuận, khi tiến hành phá dỡ đã thực hiện che chắn đảm bảo không anh hưởng đến các hộ dân. Việc các hộ dân cho rằng khi phá dỡ, thi công làm cọc thí nghiệm gây thiệt hại đến công trình xây dựng là nhà ở và yêu cầu công ty bồi thường thiệt hại là không có căn cứ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố BN đã có văn bản gửi các tổ chức giám định về xây dựng có đủ điều kiện để trưng cầu giám định xác định nguyên nhân gây thiệt hại, giám định định mức mức độ thiệt hại và định giá những chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại.

Ngày 15/10/2019, Công ty TNHH giám định Việt Tín có công văn số VT1963124/01/CV/VT trả lời đồng ý thực hiện việc giám định cũng như xác định mức độ thiệt hại và chi phí khắc phục sửa chữa thiệt hại, đồng thời Công ty Việt Tín cũng thông báo mức phí giám định của mỗi hộ dân là 8.000.000đ, tổng cộng 08 hộ dân là 64.000.000đ.

Ngày 17/10/2019, Tòa án nhân dân thành phố BN có Quyết định trưng cầu giám định số 06/2019/QĐ-TCGĐ, nội dung: Trưng cầu Công ty TNHH giám định Việt Tín thực hiện việc giám định nguyên nhân gây thiệt hại; xác định mức độ gây thiệt hại và chi phí khắc phục thực tế thiệt hại do công trình xây dựng gây ra đối với công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ của 08 hộ dân nêu trên.

Ngày 18/10/2019 Tòa án cấp sơ thẩm có thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí giám định số 12/TB-TA gửi cho ông Trần Công T là người đại diện theo ủy quyền,

4

đồng thời là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 24/10/2019, ông Trần Công T có đơn đề nghị xin Tòa án cho gia hạn nộp tiền tạm ứng chi phí giám định trong thời gian 1 tháng để các hộ có thời gian thu xếp nộp tiền.

Hết thời hạn xin gia hạn, đại diện nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Đến ngày 22/11/2019 ông Trần Công T có văn bản không đồng ý việc giám định và không nhất trí nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng với căn cứ cho rằng tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã giao nộp đầy đủ cho Tòa án và những tài liệu chứng cứ này không phải chứng minh, yêu cầu giám định của Tòa án là không có căn cứ.

Ngày 25/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố BN đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 57/2019/QĐST - DS theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS.

Xét kháng cáo của đồng nguyên đơn, Hội đồng phúc thẩm thấy:

- Về quyết định trưng cầu giám định của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại các biên bản làm việc nộp kèm theo đơn khởi kiện do UBND phường Ninh X, Công ty Hoàng Gia, Trung tâm Kiểm định chất lượng và Kinh tế xây dựng thuộc Sở xây dựng tỉnh BN và đại diện các hộ dân lập chỉ ghi nhận hiện trạng các công trình nhà ở của 08 hộ dân mà không xác định nguyên nhân gây thiệt hại, giá trị thực tế của những thiệt hại này. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty Hoàng Gia cho rằng khi tiến hành phá dỡ khu nhà cũ và tiến hành làm cọc thí nghiệm công ty đã được Sở xây dựng BN chấp thuận, khi tiến hành phá dỡ đã thực hiện che chắn đảm bảo không ảnh hưởng đến các hộ dân nên không chấp nhận yêu cầu công ty bồi thường thiệt hại. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân gây thiệt hại, giá trị thực tế của thiệt hại, chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, từ đó làm căn cứ xem xét yêu cầu của nguyên đơn là cần thiết, phù hợp với quy định tại các điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định: Trong vụ án này, các đương sự đều không có yêu cầu giám định. Nhưng xét thấy việc giám định nguyên nhân gây thiệt hại, giá trị thực tế của thiệt hại, chi phí thực tế để khắc phục thiện là cần thiết. Theo quy định tại khoản 2 Điều 160 Bộ luật Tố tụng dân sự thì trường hợp này nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định là nguyên đơn.

5

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc đồng nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí phí giám định để ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ. Như vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn, cần giữ nguyên quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân thành phố BN.

- Về án phí phúc thẩm: Bà Ngô Thị P, Bà Hoàng Thúy L, Bà Nguyễn Thị Hồng V, Ông Nguyễn Quang Q, Ông Nguyễn Văn C, ông Võ Tiến Hùng, Bà Nguyễn Thị T, Bà Đặng Thị Thu H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 57/2019/QĐST-DS ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BN.

2. Về án phí phúc thẩm: Bà Ngô Thị P, Bà Hoàng Thúy L, Bà Nguyễn Thị Hồng V, Ông Nguyễn Quang Q, Ông Nguyễn Văn C, ông Võ Tiến Hùng, Bà Nguyễn Thị T, Bà Đặng Thị Thu H mỗi người phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm. Xác nhận bà Phương, bà Loan, bà Vân, ông Quý, ông Cải, ông Hùng, bà Thanh, bà Hiền mỗi người đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai từ số 0000023 đến 0000030 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BN.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ