vanban.org

Quyết định 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị P đối với ông Hoàng Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị P được ly hôn với ông Hoàng Văn Đ.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị P- Hoàng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 09/3/2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

2. Bà Nguyễn Kim Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1502/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2020 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị P, sinh năm 1993; thường trú tại: Xã H, huyện C, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: 22/3/15B, khu phố Đồng An 3, phường H, thị xã A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989; thường trú tại: Xã H, huyện C, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: 22/3/15B, khu phố Đồng An 3, phường H, thị xã A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 10 năm 2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – bà Bùi Thị P trình bày:

Bà P và ông Hoàng Văn Đ chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Nghệ An và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2014, quyển số 01, ngày 16/5/2014.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Hoàng Văn Gia H, sinh ngày 23/6/2014 và Hoàng Văn Gia B, sinh ngày 22/9/2018.

Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà P khởi kiện yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn Đ.

Về con chung: Sau khi ly hôn bà P yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Hoàng Văn Gia H, sinh ngày 23/6/2014 . Giao cháu Hoàng Văn Gia B, sinh ngày 22/9/2018 cho ông Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng ông Đ đều vắng mặt. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Bà Bùi Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hoàng Văn Đ và yêu cầu được nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Hoàng Văn Đ có nơi cư trú tại khu phố Đồng An 3, phường H, thị xã A, tỉnh Bình Dương vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn- bà Bùi Thị P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn – ông Hoàng Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị P và ông Hoàng Văn Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Nghệ An và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2014, quyển số 01, ngày 16/5/2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà Bùi Thị P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn Đ với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống riêng nhau từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai.

Quá trình tố tụng Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà P và ông Đ tại nơi cư trú của vợ chồng nhưng không ai có thông tin gì về việc vợ chồng bà P và bà Đức mâu thuẫn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thương yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng bà P và ông Đ vì bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng phai nhạt. Từ khi bà P nộp đơn khởi kiện đến nay tình trạng hôn nhân của bà P và ông Đ vẫn không cải thiện, không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống nên xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà P và ông Đ không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của bà P và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà P yêu cầu trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Hoàng Văn Gia H, sinh ngày 23/6/2014. Giao cháu Hoàng Văn Gia B, sinh ngày 22/9/2018 cho ông Đ trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai, xét thấy: Từ khi vợ chồng sống riêng, cháu Huy sống cùng với bà P, cháu B sống cùng với ông Đ. Các con hiện nay phát triển bình thường, khỏe mạnh, học hành đầy đủ nên chứng tỏ ông Đ và bà P nuôi con tốt, có trách nhiệm do vậy cần tiếp tục duy trì việc nuôi con của bà P và ông Đ như trên để đảm bảo sự ổn định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con.

Về cấp dưỡng: Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị P đối với ông Hoàng Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị P được ly hôn với ông Hoàng Văn Đ.

- Về con chung:

*Giao con chung tên Hoàng Văn Gia H, sinh ngày 23/6/2014 cho bà Bùi Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

*Giao con chung Hoàng Văn Gia B, sinh ngày 22/9/2018 cho ông Hoàng Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng: Không ai cấp dưỡng cho ai

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0036362 ngày 06/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ