- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyên Thị N yêu cầu tuyên bố ông Vi Minh L đã chết."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2019/QĐST-VDS | Bến Cát, ngày 12 tháng 6 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 313/2018/TLST-VDS ngày 07 tháng 12 năm 2018 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 14/2019/QĐST-VDS ngày 31 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1945; địa chỉ: Ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh B, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vi Minh L, sinh năm 1960; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh B, vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 20/11/2018 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà N là vợ của ông Vi Minh L. Bà N và ông L chung sống với nhau từ năm 1989, đến năm 1995 có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân xã A. Ông L đã bỏ địa phương đi từ ngày 26/6/2009 cho đến nay, không rõ vì lý do gì, không thông báo với gia đình và chính quyền địa phương. Từ khi bỏ đi cho tới nay, ông L không quay về địa phương thăm gia đình, vợ con, không ai rõ ông L đi đâu, làm gì. Mặc dù bà N và gia đình đã tìm đủ mọi cách để liên lạc, tìm kiếm ông L nhưng không có kết quả.
Do thời gian ông L mất tích cho đến nay đã 10 năm nên bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vi Minh L là đã chết, để bà N hoàn thiện thủ tục ly hôn với ông L và tiến hành thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất.
Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị N giữ nguyên yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Vi Minh L và không yêu cầu gì thêm.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B tại phiên họp:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Bà Nguyễn Thị N là vợ của ông Vi Minh L (có đăng ký kết hôn từ năm 1995). Ông L đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 cho đến nay không rõ tung tích mặc dù gia đình đã cố gắng tìm kiếm nhưng không có kết quả. Để thực hiện các giao dịch liên quan đến nhân thân và tài sản của ông L nên bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vi Minh L là đã chết. Thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Vi Minh L đã được đăng trong 03 số liên tiếp của Báo Công lý, phát 03 lần trong 03 ngày liên tiếp trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam và đăng trên cổng thông tin điện tử của Tòa án. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên, nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông L là còn sống. Căn cứ Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nhận thấy yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã B nhận định:
Về thẩm quyền: Việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Vi Minh L có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại Ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh B. Do đó việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh B theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Vi Minh L:
Người yêu cầu là bà Nguyễn Thị N là vợ của ông Vi Minh L. Theo xác nhận của Công an xã P, thị xã B, ông Vi Minh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh B. Ông L đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 cho đến nay, không trình báo với chính quyền địa phương, không rõ tung tích hiện nay ông L đang ở đâu. Thời gian biệt tích của ông Lâm từ năm 2009 cho đến nay là 10 năm.
Ngày 12/12/2018, Tòa án nhân dân thị xã B đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Vi Minh L. Nội dung quyết định thông báo tìm kiếm ông L đã được: Đăng trên Báo Công lý trong 03 số liên tiếp: Số 100 (1639) ngày 21/12/2018, số 101 (1640) ngày 19/12/2018 và số 102 (1641) ngày 21/12/2018; phát trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp là 17, 18 và 19/12/2018 và đã được đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Tòa án nhân dân. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm ông Vi Minh L vẫn không có kết quả, không có tin tức xác thực ông Vi Minh L là còn sống. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, cần tuyên bố ông Vi Minh L là đã chết theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu là bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn lệ phí Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 370; Điều 372; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
2. Tuyên bố ông Vi Minh L, sinh năm 1960; địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh B là đã chết kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
3. Về lệ phí: Người yêu cầu là bà Nguyễn Thị N được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Thị Xuân (Đã ký) Nguyễn Thị Duyên |