vanban.org

Quyết định 10/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh H về việc huy kết hôn trái pháp luật, cụ thể là hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30/12/2011 của UBND xã C đã cấp cho anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2.

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh N1, chị N2: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 và chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/05/1995 đều trú tại thôn P, xã C, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm chị N2 đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 04/05/2013. Anh Nguyễ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh H về việc huy kết hôn trái pháp luật, cụ thể là hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30/12/2011 của UBND xã C đã cấp cho anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2019/QĐST-HNGĐ
“V/v yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật và công nhận
quan hệ hôn nhân”
Thanh Miện, ngày 25 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Xuân Thành.

Thư ký phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2019/TLST-VDS, ngày 09 tháng 9 năm 2019 về việc “Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 10/2019/QĐST-VDS ngày 12 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: * Người yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật (Huỷ Giấy chứng nhận kết hôn): - Uỷ ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh H, đại diện theo pháp luật là ông Vũ Đình N - Chủ tịch UBND xã C, huyện T, tỉnh H.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 và chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/05/1995; HKTT: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh H.

Anh N1, chị N2 có mặt; ông N có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

UBND xã C, huyện T, tỉnh H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật, cụ thể hủy giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30 tháng 12 năm 2011 của UBND xã C, huyện T vì xác định: Trong giấy chứng nhận kết hôn ghi anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 kết hôn với chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/07/1993 không đúng với ngày, tháng, năm sinh của chị N2 được thể hiện trong giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng minh nhân dân ghi chị N2 sinh ngày 04/05/1995. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 30/12/2011 chị N2 được 16 tuổi 07 tháng 26 ngày chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên” mới đủ tuổi đăng ký kết hôn. Để đủ tuổi đăng ký kết hôn chị N2 khai sinh năm 1993 là không đúng với ngày, tháng, năm sinh thực tế của chị N2, nguyên nhân ghi năm sinh 1993 của chị N2 do sơ suất của cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn chỉ căn cứ vào tờ khai của anh N1, chị N2 mà không yêu cầu chị xuất trình chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu gia đình để kiểm tra, đối chiếu cho chính xác dẫn đến việc đăng ký kết hôn trái pháp luật. Phát hiện việc đăng ký kết hôn và đã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho anh N1, chị N2 là trái pháp luật, đại diện UBND xã C là ông Vũ Đình N, Chủ tịch UBND xã có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30/12/2011 của UBND xã C, huyện T, tỉnh H đã cấp cho anh N1, chị N2.

Anh N1, chị N2 khi biết UBND xã C, huyện T có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (cụ thể hủy Giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật) của UBND xã C cấp cho anh chị, anh chị cũng xác định việc kết hôn giữa anh và chị, thời điểm đăng ký kết hôn chị N2 chưa đủ tuổi là vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi, anh chị đồng ý với yêu cầu của UBND xã C không có ý kiến gì. Việc ghi chị sinh năm 1993 là do chị khai với cán bộ tư pháp để được đăng ký kết hôn. Vì vậy khi khai sinh cho cháu Nguyễn Duy A đã ghi họ tên mẹ Nguyễn Thị N2, sinh năm 1993. Từ khi đăng ký kết hôn đến nay vợ chồng chung sống vẫn vui vẻ, hòa thuận, hạnh phúc, có 02 con chung là Nguyễn Duy A, sinh ngày 26/09/2012 và Nguyễn Ngọc Tuệ N3, sinh ngày 14/01/2019 và tài sản chung, vì năm sinh của chị không khớp nhau nên trong cuộc sống của anh chị đã bị ảnh hưởng vì vậy anh chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm chị N2 đủ tuổi kết hôn theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Điều 9; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Chấp nhận đơn yêu cầu của UBND xã C, huyện T, tỉnh H: huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2, cụ thể huỷ Giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30 tháng 12 năm 2011 của UBND xã C, huyện T đã cấp cho anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2.

+ Chấp nhận đơn yêu cầu của anh N1, chị N2: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 và chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/05/1995 kể từ thời điểm chị N2 đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 04/05/2013.

- Về lệ phí: Anh N1, chị N2 phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về Tố tụng và Thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 đều có hộ khẩu thường trú: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh H. UBND xã C, huyện T, tỉnh H là nơi đăng ký kết hôn trái pháp luật cho anh N1, chị N2 vì vậy UBND xã C, huyện T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật (cụ thể hủy giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30 tháng 12 năm 2011 đã cấp cho anh N1, chị N2. Anh N1, chị N2 có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm chị N2 đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 điều 35, điểm g khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện thụ lý vụ việc dân sự là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ như sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân đã có đủ căn cứ chứng minh anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 (đủ tuổi kết hôn), chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/05/1995, thời điểm đăng ký kết hôn chị N2 được 16 tuổi 07 tháng 26 ngày (chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn), do vậy chị N2 đã khai sinh năm 1993 để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do sơ suất trong việc kiểm tra lý lịch như giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình của anh N1, chị N2, UBND xã C đã đăng ký kết hôn cho anh N1, chị N2, tại giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30 tháng 12 năm 2011, ghi họ vợ Nguyễn Thị N2, sinh năm 1993 không đúng với năm sinh thực của chị N2 là năm 1995. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2000.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tại Điều 9 quy định: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Như vậy có đủ căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 30/12/2011 chị N2 chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, việc UBND xã C đã đăng ký kết hôn cho anh N1, chị N2 là trái với quy định của pháp luật. Do vậy UBND xã C, huyện T có đơn yêu cầu Tòa án Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ chấp nhận theo Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh N1, chị N2 đều xác định anh chị đã có đủ điều kiện kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 02 con chung, tài sản chung nhưng vì tháng, năm sinh của chị N2 không khớp nhau nên đã ảnh hưởng đến cuộc sống của anh, chị và các con anh, chị. Anh N1, chị N2 đều thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm chị N2 đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị N2 sinh ngày 04/5/1995 nhưng trong Giấy chứng nhận kết hôn ghi ngày tháng năm sinh là 04/7/1993, trong giấy khai sinh của cháu Nguyễn Duy A cũng ghi năm sinh của chị là năm 1993, chị N2 đã có đơn đề nghị và được UBND xã C xác nhận là của cùng một người.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

- UBND xã C, huyện T, tỉnh H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự;

- Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự. Anh N1, chị N2 thỏa thuận, anh N1 chịu cả lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 6 điều 3, Điều 8, 10, 11, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149, 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh H về việc huy kết hôn trái pháp luật, cụ thể là hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 99/2011 ngày 30/12/2011 của UBND xã C đã cấp cho anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2.

2. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh N1, chị N2: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn N1, sinh ngày 07/09/1987 và chị Nguyễn Thị N2, sinh ngày 04/05/1995 đều trú tại thôn P, xã C, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm chị N2 đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 04/05/2013.

Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 có trách nhiệm đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn N1 tự nguyện chịu cả số tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được đối trừ vào tiền tạm ứng lệ phí anh đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0002986 ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

4. Quyền kháng cáo: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Người yêu cầu vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP

Cỡ chữ