- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "TUYEN BO CHET"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Tuyết L .
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2019/QĐDS-ST | Quận Bình Thạnh, ngày 02 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên họp: Bà Thái Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Trường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phan Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 0673/2018/TLST-DS ngày 19/4/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 571/2018/QĐMPH-DS ngày 17 tháng 12 năm 2018 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Tuyết L.
Địa chỉ: đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 19/12/2018).
Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với:
Bà Lư Tuyết M.
Nơi cư trú cuối cùng: đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Bà Nguyễn Tuyết A;
2/. Ông Nguyễn Hoàng B.
Địa chỉ: đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà A, ông B cùng có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 18/7/2018).
NỘI UNG V VIỆ :
* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 06/4/2018 và bản khai lập tại Tòa án của bà Nguyễn Tuyết L - người yêu cầu trình bày:
Cha mẹ của bà L là ông Nguyễn Hoàng D (sinh năm: 1940, chết ngày 03/6/1991) và bà Lư Tuyết M (sinh năm: 1942). Ông D và bà M chung sống hợp pháp, có chứng thư hôn thú lập ngày 28/12/1965 tại xã Bình An, quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa. Vợ chồng chung sống có 03 (ba) người con chung gồm:
1/. Bà Nguyễn Tuyết L; sinh năm: 1963;
2/. Bà Nguyễn Tuyết A; sinh năm:1964;
3/. Ông Nguyễn Hoàng B; sinh năm: 1965.
Trong quá trình chung sống cha mẹ bà L có tạo lập được căn nhà, đất tại thửa đất số 65, tờ bản đồ 26, địa chỉ số đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn nhà đất này hiện nay do bà Nguyễn Tuyết L là đại diện cho các đồng thừa kế đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số k do Ủy ban nhân dân quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Bà Lư Tuyết M đã bỏ nhà đi từ năm 1972 cho đến nay, gia đình đã không có tin tức gì của bà M. Bà L và gia đình đã đăng báo nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của bà Mlà còn sống hay đã chết.
Ngày 29/3/2005 bà L đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tuyên bố một người mất tích đối với bà Lư Tuyết M. Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã ra Quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích số 05/QĐ-VDS ngày 20/3/2006 đối với bà Lư Tuyết M, sinh năm: 1942, nơi cư trú cuối cùng đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lư Tuyết M là một người đã chết để gia đình chị em của bà L làm thủ tục tặng cho căn nhà nêu trên cho nhau.
* Các ông/bà: Nguyễn Tuyết A, Nguyễn Hoàng B - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà A, ông B xác nhận có cha Nguyễn Hoàng D (sinh năm: 1940, chết ngày 03/6/1991) và mẹ là bà Lư Tuyết M (sinh năm: 1942). Cha mẹ chung có 03 (ba) người con chung như trên.
Bà Lư Tuyết M bỏ đi khỏi địa phương vào năm 1972 cho đến nay. Gia đình đã đăng báo nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm bà M nhưng không có tin tức gì của bà Mai còn sống hay đã chết.
Nay bà Avà ông B đồng ý với yêu cầu của bà Nguyễn Tuyết L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lư Tuyết Mlà một người đã chết để gia đình chị em tặng cho căn nhà nêu trên cho nhau.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc yêu cầu và tại phiên họp Thẩm phán và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được
thẩm tra tại phiên họp, đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Tuyết L.
NHẬN ĐỊNH ỦA T A N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự trong bản khai và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định :
[1]. Về pháp luật tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Tuyết L yêu cầu tuyên bố bà Lư Tuyết M là một người đã chết. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại Khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà Mai có nơi cư trú cuối cùng tại số đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đã có đơn xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Các đương sự đã có bản khai tại Tòa án nên căn cứ Khoản 2, Khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Tuyết L, yêu cầu tuyên bố bà Lư Tuyết M là một người đã chết.
Căn cứ vào lời khai của người người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; trích lục chứng thư hôn thú, bản sao giấy khai sinh và một số tài liệu liên quan khác có trong hồ sơ việc dân sự, có cơ sở xác định: Bà Lư Tuyết M là vợ hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng D. Bà M và ông D chung sống có 03 người con chung nêu trên.
Ông Nguyễn Hoàng D (chết ngày 03/6/1991), bà Lư Tuyết M (sinh năm: 1942) đã bỏ nhà đi từ năm 1972. Trước khi bỏ đi, bà Mai có nơi cư trú cuối cùng tại số đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ “Hợp đồng thông báo - nhắn tin” số 176/TTHCM-HĐTT ngày 26/7/2018 được ký giữa bà Nguyễn Tuyết L với Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh để nhắn tin vào các ngày 13,14,15/8/2018 và “Hợp đồng quảng cáo” số 285-2018/HĐQC-CQTT ngày 26/7/2018 đã được ký giữa bà Nguyễn Tuyết L với Cơ quan thường trú báo Lao Động tại thành phố Hồ Chí Minh phát hành số báo vào các ngày 30, 31/7/2018, ngày 01/8/2018 có nội dung thể hiện việc bà Loan đã nhắn tin tìm kiếm bà Lư Tuyết M nên có cơ để xác định bà L đã thực hiện việc tìm kiếm bà M trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả.
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực
pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
Căn cứ Quyết định số 05/QĐ-VDS ngày 20/3/2006 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố bà Lư Tuyết M là một người mất tích nên mốc thời gian ngày 20/3/2006 là ngày Tòa án ra Quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố bà M mất tích nên thời điểm chết của bà Mđược xác định là ngày 21/03/2009. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố chết được áp dụng theo Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối chiếu với quy định của pháp luật được viện dẫn và đề nghị của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân tại phiên họp, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên về việc yêu cầu tuyên bố bà Lư Tuyết M là một người đã chết.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Khoản 2, Khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Tuyết L .
2. Tuyên bố bà Lư Tuyết M, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng: đường X,
Phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. - là một người đã chết.
Thời điểm chết của bà Lư Tuyết M được xác định là ngày 21/3/2009.
3. Quan hệ nhân thân về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác của
bà Lư Tuyết M được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Tuyết L chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) do bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004354 ngày 18/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ lệ phí.
5. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo niêm yết.
Â
Nơi nhận:
| - TAND TP.HCM; - VKSND Q. Bình Thạnh; - Chi cục THADS Q. Bình Thạnh; - UBND Phường 02, Q. Bình Thạnh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | Nơi nhận THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP N D Â N Q U Thái Thị Mỹ Hạnh |