vanban.org

Quyết định 10/2019/QĐ-TA

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 31/01/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TH.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày TH bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TH.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2019/QĐ-TAH, ngày 31 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở

cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán, chủ trì phiên phiên: Bà Phạm Ngọc Giàu.

2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Lê Thị Hoàng Yến.

Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hồ sơ thụ lý số: 13/2019/TL-VHC ngày 21 tháng 01 năm 2019 và Quyết định mở phiên họp số: 10/2019/QĐ-TA ngày 24 tháng 01 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn TH; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/11/1990 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Hộ khẩu thường trú: Số 42, ấp Đ, xã B, huyện H, tỉnh T. Chỗ ở hiện nay: Số 42, ấp Đ, xã B, huyện H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm mướn; Cha Nguyễn Văn Bé và mẹ Nguyễn Thị Ảnh (chết).

Tiền án: Không;

Tiền sự: Có 02 tiền sự;

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 185/QĐ-XPVPHC ngày 07/6/2018, của Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt TH số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 208/QĐ-XPVPHC ngày 28/6/2018, của Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt TH số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt xong.

Anh TH vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh Dũng - Chức vụ: Trưởng phòng.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Hữu Bình - Chức vụ: Chuyên viên (Theo giấy ủy quyền số 17/GUQ-P.LĐTBHX ngày 25/01/2019).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T: Ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 07/6/2018 TH bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số 185/QĐ-XPHC ngày 07/6/2018.

Ngày 28/6/2018 TH bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số 208/QĐ-XPHC ngày 28/6/2018.

Ngày 28/6/2018 Chủ tịch UBND xã B, huyện H, tỉnh T ra quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình đối với TH, theo Quyết định số 164/QĐ-XPHC ngày 28/6/2018.

Ngày 23/10/2018 TH tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T lập biên bản vi phạm hành chính và Trạm y tế xã B, huyện H, tỉnh T xác định Thành là người nghiện chất ma túy (Methamphetamine).

Ngày 24/10/2018 Chủ tịch UBND xã B, huyện H, tỉnh T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với TH, theo Quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 24/10/2018.

Ngày 21/12/2018 TH tiếp tục vi phạm hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được Trạm y tế xã B, huyện H, tỉnh T xác nhận là người nghiện chất ma túy (Methamphetamine).

Ngày 24/12/2018 Chủ tịch UBND xã B, huyện H, tỉnh T ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại gia đình số 232/QĐ-UBND ngày 24/12/2018 đối với TH và Chủ tịch UBND xã B, huyện H, tỉnh T ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 233/QĐ-UBND ngày 24/12/2018 đối với TH, đề nghị đưa TH vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ra Quyết định số 234/QĐ-UBND ngày 24/42/2018 giao cho gia đình quản lý người đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với TH do Công an xã B, huyện H, tỉnh T lập đã thể hiện: Anh TH là người nghiện ma túy, nhiều lần bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, đã cai nghiện tự nguyện tại gia đình, được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tái phạm. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh TH, thời gian từ 18 tháng đến 22 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Tòa án nhân dân huyện Hđã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. TH đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TH, thời gian từ 18 tháng đến 22 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hphát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:

TH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh TH, hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6; 95; 96; 103; 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong thời gian lập hồ sơ đề nghị đưa anh Thành đi cai nghiện bắt buộc, do anh Thành có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T có ra Quyết định giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy thể hiện TH nhiều lần dương tính với chất ma túy. Thành cũng thừa nhận mình là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, đối với con người, cộng đồng và xã hội nhưng vẫn liên tục sử dụng. Công an xã B, huyện H, tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt hành chính nhiều lần đối với anh Thành về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T đã tạo điều kiện cho anh Thành tự nguyện cai nghiện tại nhà và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng anh Thành vẫn không tự cai nghiện được. Để tạo điều kiện cho anh Thành chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TH.

Khi xem xét mức xử phạt đối với TH cần xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ anh TH thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý đi cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Anh TH đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên lần vi phạm này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, cần áp dụng thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện hợp lý để Thành có thể cai nghiện tốt, trở về hòa nhập cộng đồng, làm người có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 6; 95; 96; 103; 104; 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3; 4; 8; 9; 11 và 12 Nghị định số 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TH.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày TH bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hcó quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện H, tỉnh T; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.

Cỡ chữ