- Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH N ---------=--------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2019/QĐ -TA | G, ngày 17 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Q.
2. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Trần Thị H
Ngày 17/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 10/2019/QĐ-TA ngày 10/5/2019 đối với:
Họ và tên: Đ. Tên gọi khác: không.
Giới tính: Nam; Sinh năm 1991.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12.
Hộ khẩu thường trú: Thôn 2 Kênh Gà, xã G, huyện G, tỉnh N.
Chỗ ở hiện nay: Thôn 2 Kênh Gà, xã G, huyện G, tỉnh N.
Tiền án: Ngày 12/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 64/2017/HSST.
Tiền sự:
- Ngày 18/9/2018: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã G ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 06 tháng.
- Ngày 04/4/2019: Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
với số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Con ông: Trần Văn K và bà Bùi Thị D.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà An Thị M - Chức vụ: Phó phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh N là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/5/2019).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu L- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đ là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 18/9/2018, bị Chủ tịch UBND xã G, huyện G, tỉnh N ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng bản thân Đ không từ bỏ mà lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: Vào ngày 28/3/2019, Công an huyện G phối hợp với Công an xã G bắt quả tang Đ đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G vẫn giữ nguyên quan điểm như Công văn số 50/LĐ-TB&XH ngày 04/5/2019 đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân(VKSND) huyện G tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính như sau: Về mặt trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân huyện G đã tuân thủ đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13, ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị Tòa án nhân dân huyện G căn cứ Điều 95, 96 khoản 1 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 7, 8, 9, 11, 12, 16, 17, 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13, ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xem xét tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G; đại diện VKSND huyện G.
XÉT THẤY:
Đ là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016. Sau khi biết Đ nghiện ma túy gia đình, chính quyền địa phương và các đoàn thể đã tạo điều kiện cho Đ cai nghiện tại gia đình, giáo dục tại địa phương, nhưng Đ vẫn không từ bỏ ma túy mà lại tái phạm. Điều này thể hiện: ngày 18/9/2018, bị Chủ tịch UBND xã G, huyện G, tỉnh N ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Đ, không lấy đó làm bài học cho mình, quyết tâm từ bỏ mà vào ngày 28/3/2019, Công an huyện G phối hợp với Công an xã G bắt quả tang Đ đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trên cơ sở đó ngày 04/4/2019 Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 500.000 đồng đối với Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời bố đẻ của Đ cũng đã có đơn đề nghị cấp có thẩm quyền đưa Đ đi cai nghiện. Như vậy, Đ đã từng bị ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục sử dụng ma túy, chứng tỏ Đại là người có nhân thân xấu, đồng thời đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Rõ ràng Đ nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm; sự nguy hiểm của ma túy, tác hại to lớn của ma túy nhưng Đ vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật và không có tiến bộ trong việc tự cai nghiện của Đ. Do vậy, việc UBND xã G lập hồ sơ chuyển phòng Tư pháp thẩm tra để phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận. Xét bản thân Đ là đối tượng còn khá trẻ nhưng đã nghiện ma túy đã khá lâu, đã có thời gian cai nghiện tự nguyện tại gia đình nhưng vẫn chưa cai nghiện thành công cho nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ với thời hạn tương đối dài theo quy định của pháp luật để đảm bảo đủ thời gian cai nghiện thành công, sớm giúp Đ trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, từ bỏ được ma túy.
Vì các lẽ trên.
Áp dụng:
- Điểm b khoản 1 Điều 10; Khoản 2 Điều 95; Khoản 1 Điều 96; Khoản 2 Điều 108; Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Khoản 1 Điều 23; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20(hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện G chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh N - Công an huyện G; - VKSND huyện G; - Phòng LĐTB và XH huyện G; - UBND xã G; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ, vp./. | TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN Thẩm phán Nguyễn Hữu Q |