- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Thị Lvề việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------***------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2018/QĐDS-ST Ngày: 28/12/2018 V/v: Tuyên bố một người là đã chết |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thúy Hoa - Thẩm phán
Thư ký phiên họp:Ông Đỗ Xuân Trường - Thư ký Toà án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 78/2018/TLST- VDS ngày 14.6.2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 18/2018/QĐ-MPH ngày 10/12/2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Cụ bà Nguyễn Thị L – Sinh năm: 1939
Hộ khẩu thường trú và cư trú: Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
( có mặt tại phiên họp)
Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với: Cụ Ông Nguyễn Duy T-Sinh năm:1936. Hộ khẩu thường trú: Phè HuÕ( nay lµ phè Chïa Vua), ph êng Phè HuÕ, quËn Hai Bµ Tr ng, thµnh phè Hµ Néi. Nơi cư trú cuối cùng: Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
( vắng mặt tại phiên họp)
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Nguyễn Thị Bích D – Sinh năm: 1964
HKTT: phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Cư trú: Phòng 801 tòa nhà 196 Thái Thịnh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
( xin vắng mặt tại phiên họp)
2.2. Chị Nguyễn Thúy H – Sinh năm: 1985
Cùng hộ khẩu thường trú và cư trú: phố Bạch Mai,phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
(có mặttại phiên họp)
2.3. Anh Nguyễn Minh H – sinh năm 1995
Cùng hộ khẩu thường trú và cư trú: phố Bạch Mai,phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
(có mặt tại phiên họp)
2.4. Chị Nguyễn Mai T – sinh năm 1983
Cùng hộ khẩu thường trú và cư trú: Nghĩa Dũng, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
( xin vắng mặt tại phiên họp)
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Cụ bà Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án tuyên bố cụ ông Nguyễn Duy T(Sinh năm: 1936; Hé khÈu th êng tró: sè 24 Phè 332 Phè HuÕ( nay lµ phè Chïa Vua), ph êng Phè HuÕ, quËn Hai Bµ Tr ng, thµnh phè Hµ Néi. Nơi cư trú cuối cùng: số 7 Ngõ 524 Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.) là người đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nhận định:
Cụ bà Nguyễn Thị L và cụ ông Nguyễn Duy T kết hôn 1957 có đăng ký tại Ủy ban hành chính quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, cả hai bên đều kết hôn lần đầu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Phè HuÕ( nay lµ phè Chïa Vua), ph êng Phè HuÕ, quËn Hai Bµ Tr ng, thµnh phè Hµ Néi. Đến năm 1993 gia đình chuyển về chung sống tại địa chỉ Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là nhà được cơ quan cụ T cấp cho cụ.
Quá trình chung sống, cuộc sống bình thường, từ khi chuyển đến ở tại phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng , thành phố Hà Nội một thời gian thì cụ ông T đã bỏ nhà đi (cụ bà L không nhớ rõ ngày và không nhớ chính xác tháng nào), cụ T đã bỏ nhà đi biệt tích, cụ L và gia đình đã đi tìm nhiều nơi, hỏi thăm bạn bè, người thân trong nhiều năm nhưng vẫn không có tin tức gì về cụ ông T. Cụ L và cụT có bốn con chung, ngoài ra không có con riêng hay con nuôi gồm:
-
Ông Nguyễn Hồng M, sinh năm: 1958( đã chết), ông Minh có hai người con là chị Nguyễn Thúy H, 1985 và anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1995;
-
Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1961(đã chết), ông T có một người con là chị Nguyễn Thị Mai Trang, sinh năm 1983;
-
Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1964
-
Ông Nguyễn Anh B, sinh năm 1969 (đã chết), ông B chưa có gia đình.
Vì không biết được tin tức về cụ Nguyễn Duy T nên cụ Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện đề ngày 02.4.2018 đề nghị Tòa án tuyên bố cụ Nguyễn Duy T là người đã chết.
Bà Nguyễn Thị Bích D là con đẻ của cụ ông Nguyễn Duy T và cụ bà Nguyễn Thị L cùng với các cháu nội của cụ Ông Nguyễn Duy T và cụ bà Nguyễn Thị L là chị Nguyễn Thúy H và anh Nguyễn Minh H, chị Nguyễn Thị Mai T nhất trí với yêu cầu của cụ bà L.
Tại phiên họp: Cụ bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thúy H và anh Nguyễn Minh H, vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Cụ bà Nguyễn Thị L yêu cầu Toà án tuyên bố cụ ông Nguyễn Duy T là đã chết. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng,thực hiện đúng quy định về việc lời khai, tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết, xác minh, thu thập chứng cứ, ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đã được đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định. Tại phiên họp, Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:Xét đơn yêu cầu của cụ bà Nguyễn Thị L là có căn cứ. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của cụ bà Nguyễn Thị Lvà ra Quyết định tuyên bố cụông Nguyễn Duy L là đã chết theo quy định của pháp luật.
Xét: Cụ ông Nguyễn Duy T đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1993, cụ bà Nguyễn Thị L- là vợ của cụT đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của cụ L, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với cụ ông Nguyễn Duy T. Thông báo tìm kiếm thông tin của cụ ông T được đăng 3 lần trong 3 số báo liên tiếp vào các ngày 31 tháng 7, ngày 01 và ngày 02 tháng 8 năm 2018 trên Báo Nhân dân; Tin nhắn tìm tin tức của cụ T trên Đài Tiếng nói Việt Nam được phát vào hồi 11 giờ 50 phút 3 lần trong 3 ngày liên tiếp vào các ngày 26,27,28 tháng 7 năm 2018 và trên Cổng Thông tin điện tử của Tòa án. Nhưng cho đến nay đã hơn 4 tháng vẫn không có tin tức gì về cụ ông Nguyễn Duy T.
Ủy ban nhân dân và Công an phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú cung cấp: Từ năm 1993 Cụ ông Nguyễn Duy T không sinh sống tại địa xx ( nay là phố Chùa Vua), phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, gia đình cụ T đã chuyển đến sống tại địa chỉ phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nôi, cụ T không quay về nơi có hộ khẩu thường trú. Ủy ban nhân dân phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng là nơi cư trú cuối cùng của cụ ông T cung cấp: cụ T đã bỏ nhà đi từ năm 1994 đến nay không thấy về nơi cư trú. Hiện nay cụ T ở đâu chính quyền địa phương không nắm được và cũng không có thông tin gì về ông cụ T.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định cụ ông Nguyễn Duy T biệt tích hơn 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, đề nghị của cụ bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố cụ T là người đã chết là phù hợp vớiđiểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
* Về việc xác định ngày chết của ông Nguyễn Duy T:
Cụ L chỉ xác định được năm cụ T bỏ đi là năm 1993, còn ngày và tháng thì cụ L không nhớ chính xác nhưng theo Chính quyền địa phương cung cấp: từ năm 1994 không còn thông tin gì đối với cụ T do vậy cần xác định năm 1994 là năm biết được tin tức cuối cùng của cụ T. Trường hợp của cụ T thuộc trường hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng, do đó ngày chết của cụ T được T là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy, xác định ngày chết của ông T là ngày mùng 01 tháng 01 năm 1995.
* Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cụ Nguyễn Duy Tịnh là đã chết:
Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của cụ Nguyễn Duy T được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ về tài sản của cụ Nguyễn Duy T được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.
Về lệ phí: Cụ Nguyễn Thị L không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3Điều 71; Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; Điều 362; điểm d khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 366; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 376; Điều 377; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 mục I Phần B của Danh mục án phí, lệ phí Toà án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của cụ Nguyễn Thị Lvề việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
Tuyên bố:Cụ ông Nguyễn Duy T- Sinh năm:1936
Hộ khẩu thường trú: xx Phè HuÕ( nay lµ phè Chïa Vua), ph êng Phè HuÕ, quËn Hai Bµ Tr ng, thµnh phè Hµ Néi.
Nơi cư trú cuối cùng: Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đã chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995.
Hậu quả pháp lý:
Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của cụ Nguyễn Duy T được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ về tài sản của cụ Nguyễn Duy T được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự:
Cụ Nguyễn Thị L không phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
Cụ Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thúy H, anh Nguyễn Minh H có mặt có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
Bà Nguyễn Thị Bích D,chị Nguyễn Mai T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định.
Cụ Nguyễn Duy T vắng mặt có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn niêm yết Quyết định. Nơi gửi:
| - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Viện Kiểm sát quận Hai Bà Trưng; - Thi hành án quận Hai Bà Trưng; - UBND phường Bạch Đằng, -UBND phường Phố Huế,Q.HBT,HN (để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch;) - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN Vũ Thúy Hoa |