- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa nguyên đơn ông A với bị đơn bà B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn bà B đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2018/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 16 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
KHÔNG CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Hoàng Anh.
- Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Dũ.
2. Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Mã Quế Khanh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 10 năm 2018 bị đơn bà B nộp đơn kháng cáo quá hạn (đơn đề ngày 15 tháng 10 năm 2018) qua đường bưu điện (nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng sau đó đơn được chuyển về cho Tòa án nhân dân huyện Z) để kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, với nội dung: Bà không đồng ý với việc bản án sơ thẩm giải quyết buộc bà trả cho ông A số tiền 104.500.000đồng, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết lại vụ án theo hướng triệu tập ông C với tư cách người làm chứng việc nhận tiền mua lúa giữa ông D và ông A và triệu tập ông E (con ruột ông D) với tư cách người kế thừa trách nhiệm của ông D để xem xét giải quyết vụ án và xác định bà chỉ là người bảo lãnh nợ chứ không phải là người trực tiếp nhận nợ, vì bà hoàn toàn không biết ông A là ai và giữa hai bên cũng không có bất cứ quan hệ làm ăn gì với nhau.
XÉT THẤY:
Việc kháng cáo của bà B là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc kháng cáo quá hạn: Qua xem xét tài liệu chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn có trong hồ sơ, thể hiện vào ngày 09/7/2018 Tòa án nhân dân huyện Z mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” giữa nguyên đơn ông A với bị đơn bà B và tuyên án cùng ngày 09/7/2018. Bà B có mặt tại phiên tòa sơ thẩm từ lúc khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa, kể cả thời điểm Hội đồng xét xử tuyên án và bà B cũng được nghe Chủ tọa phiên tòa giải thích về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (nội dung phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng có nêu về thời hạn kháng cáo này). Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã thực hiện cấp, tống đạt bản án sơ thẩm cho bà B nhận vào ngày 19/7/2018 là trong còn thời hạn 10 ngày giao bản án cho đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án vào ngày 09/7/2018 nên tính đến hết ngày 24/7/2018 là hết thời hạn kháng cáo, nhưng mãi đến ngày 23/10/2018 bà B mới nộp đơn kháng cáo là trễ hạn gần 04 tháng so với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Tờ tường trình về việc kháng cáo trễ hạn đề ngày 15/10/2018 (tại BL số 02) bà B trình bày lý do bà kháng cáo quá hạn là do sau khi xét xử sơ thẩm bà có đến nhận bản án sơ thẩm thì Thư ký Tòa án nhân dân huyện Z là bà F có nói bản án này không có quyền kháng cáo đi bất cứ nơi đâu mà phải chờ thi hành án, do bà là nông dân chân chất, ít học, thiếu hiểu biết nên bà đã nghe theo lời của bà F mà không kháng cáo, đến khi Chi cục thi hành án dân sự huyện Z thi hành bản án vì cho rằng bà không có kháng cáo thì bà mới biết là bà F lừa bà, sự việc bà F nói với bà như đã nêu trên có sự chứng kiến của người đi cùng với bà thời điểm đó là ông C, cư ngụ ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.
Theo nội dung Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 29/10/2018 (tại BL số 07) bà B trình bày lý do bà kháng cáo quá hạn là do sau khi xét xử sơ thẩm bà có nhận bản án sơ thẩm và bà có đọc bản án nhưng do bà không hiểu rõ nên bà không có kháng cáo, đến khi Chi cục thi hành án dân sự huyện Z mời bà lên để thi hành số tiền nợ ông A, khi đó bà yêu cầu trả dần nhưng Chi cục thi hành án dân sự huyện Z không đồng ý và cũng không mời bà và ông A gặp nhau để thỏa thuận mà ấn định cho bà trong thời hạn 01 tuần phải trả đủ tiền cho ông A, sau đó bà đi hỏi những người hiểu biết thì bà mới biết được là bà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.
Xét thấy, lý do kháng cáo quá hạn mà bà B đã nêu ra trong Tờ tường trình về việc kháng cáo trễ hạn đề ngày 15/10/2018 và Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 29/10/2018 nêu trên là mâu thuẫn với nhau.
Bà B cho rằng tại thời điểm bà nhận bản án sơ thẩm bà F có nói bản án này không có quyền kháng cáo đi bất cứ nơi đâu mà phải chờ thi hành án, do bà tin lời bà F nên đã không kháng cáo bản án dẫn đến việc bà kháng cáo quá hạn, tuy nhiên đây chỉ là lời trình bày một phía của bà B chứ bà B không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là đúng sự thật. Tại Biên bản lấy khai ngày 07/11/2018 bà F cũng không thừa nhận có việc bà F có nói với bà B rằng bà B không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Hơn nữa, tại Biên bản xác minh ngày 07/11/2018 ông C xác định vào thời điểm bà B đến Tòa án nhân dân huyện Z gặp bà F để nhận bản án sơ thẩm thì ông không có đi cùng với bà B, trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Z ông cũng không có đi cùng với bà B đến Tòa án nhân dân huyện Z lần nào, chỉ sau khi có bản án sơ thẩm thì bà B mới đem bản án đến cho ông xem, khi đó ông thấy thời hạn kháng cáo bản án đã hết nên ông mới nói cho bà B biết, sau đó ông và bà B mới đến Tòa án nhân dân huyện Z gặp bà F thì được bà F cho biết là thời hạn kháng cáo bản án của bà B đã hết.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP, ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lý do kháng cáo quá hạn mà bà B đưa ra là không chính đáng, nên không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, phát biểu về nội dung kháng cáo quá hạn và cho rằng lý do kháng cáo quá hạn mà bà B đưa ra là không chính đáng, đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà B.
Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn bà B đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND huyện Z; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Bà B; - Lưu hồ sơ vụ án. | Võ Hoàng Anh |