vanban.org

Quyết định 09 — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
tØnh phó thä

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sè:09/2022/Q§-PT
QuyÕt ®Þnh

Gi¶i quyÕt viÖc kh¸ng CÁO ®èi víi

quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n

Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó thä

Với Héi ®ång phóc thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn häp: Ông Nguyễn Hà Giang;

C¸c ThÈm ph¸n:

¤ng Nguyễn Kim Ái;

Ông Nguyễn Việt Tiến.

T¹i quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 100/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021.

Toµ ¸n nh©n d©n thành phố V, tỉnh Phú Thọ ®· c¨n cø vào Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 11/2021/TLST-DS ngày 19/01/2021 về việc “ Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1952;

Địa chỉ: khu 12, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị N, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Tổ 3, phố Tân Thành, phường Tân Dân, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

(Theo giấy ủy quyền ngày 22/6/2020).

2. BÞ ®¬n:

- Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khu 3, xã T1, xã Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1980;

Địa chỉ: xã V, huyện Huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Của anh Tuấn A, anh C là Công ty luật TNHH

TECHCO.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 7, số 31, V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp

luật: Ông Nguyễn Công H– Chức vụ: Giám đốc (Theo hợp đồng ủy quyền số:

11/2021/HĐUQ- TECHCO ngày 16/3/2021).

- Văn phòng công chứng Phú Thọ.

Địa chỉ: số 71, đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C– Chức vụ: Trưởng văn phòng.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C – Công chứng viên.

(Theo giấy ủy quyền số: 52/VP ngày 09/3/2021).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1978; Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981; Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987;

Đều có địa chỉ: khu 12, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Địa chỉ: số 1166, đường H, phường T1, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S– Chức vụ: chủ tịch UBND thành

phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1979; Chức vụ: Phó

trưởng phòng TN&MT thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Theo giấy ủy quyền ngày 27/7/2021).

Tại đơn kháng cáo ngày 12/10/2021, Bà Dương Thị H là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét lại quyết định ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 100/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021 của TAND thành phố V và cho bà được biết các khoản chi phí trong việc thẩm định và định giá tài sản có phù hợp thực tế và đúng quy định pháp luật.

XÐt thÊy:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/6/2020, 08/7/2020 và ngày 10/12/2020 người khởi kiện là Bà Dương Thị H đề nghị:

Thứ nhất, đề nghị hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất nông nghiệp, giữa bên chuyển nhượng Bà Dương Thị H, anh Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Văn H với bên nhận chuyển nhượng Anh Lê Tuấn A lập ngày 17/4/2017, đối với đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất nông nghiệp gồm các thửa đất số 180, diện tích 343 m2 , tờ bản đồ số 24; thửa đất số 198, diện tích 134 m2 , tờ bản đồ số 11; thửa đất số 166, diện tích 57,5 m2 , tờ bản đồ số 11; thửa đất số 153, diện tích 152,5 m2 , tờ bản đồ số 11; thửa đất số 12.22, diện tích 260 m2, tờ bản đồ số 18; tổng diện tích 947 m2, mục đích sử dụng đất lúa và đất RM, thời hạn sử dụng tháng 10/2013, địa chỉ thửa đất: xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P430510 do UBND thành phố V cấp theo quyết định số 702/QĐ – UB ngày 02/12/1999.

Thứ hai, nếu không Hủy hợp đồng thì phía bị đơn phải trả tiền đền bù 360.000.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng) một sào đất ruộng như những hộ nhận đền bù sau.

Sau khi thụ lý vụ án để giải quyết Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã cho các đương sự tự khai, thu thập các tài liệu, chứng cứ cần thiết khác để giải quyết vụ án.

Ngày 06/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số: 55/TB – TA với nội dung “ Tòa án cần thiết phải xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp mới có căn cứ để giải quyết vụ án, thì nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định của pháp luật với số tiền bà H phải nộp tạm ứng là 10.000.000đ”, thông báo này đã giao cho Bà Dương Thị N nhận ngày 07/9/2021.

Ngày 09/9/2021 và ngày 21/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V nhận được đơn đề nghị với nội dung: Đề nghị xem xét lại thông báo nộp tiền chi phí tố tụng không hợp lý, số tiền Tòa án đưa ra không theo quy định cụ thể là số tiền/sào hay số tiền/ m2, chi phí quá cao so với mặt bằng chung cho đất nông thôn không phải đất đô thị. Hết thời hạn nộp tiền nhưng bà H không nộp nên Tòa án nhân dân thành phố V đã ra quyết định đình chỉ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 100/2021/Q§ST - DS ngµy 30 tháng 9 năm 2021. Sau đó, bà H kháng cáo quyết định đình chỉ này.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy:

[1]. Bà Dương Thị H yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất nông nghiệp vì cho rằng bị lừa dối khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất và nếu không Hủy hợp đồng thì phía bị đơn phải trả tiền đền bù 360.000.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng) một sào đất ruộng. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 127 Bộ luật dân sự thì giao dịch dân sự bị lừa dối ký hợp đồng thì hợp đồng bị vô hiệu. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như thi hành án thì khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ để xác định diện tích đất, các tài sản khác trên đất và định giá tài sản để xác định giá trị quyền sử dụng đất làm căn cứ giải quyết việc bồi thường khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương nơi đất đang tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Hôn nhân và gia đình.

[2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là cần thiết nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản mà không cần bà H phải có đơn yêu cầu là đúng quy định tại Điều 97, Điều 101, Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà H cho rằng thông báo nộp tiền chi phí tố tụng không hợp lý, chi phí quá cao so với mặt bằng chung, số tiền Tòa án đưa ra không theo quy định cụ thể là số tiền/sào hay số tiền/ m2, chi phí quá cao so với mặt bằng chung cho đất nông thôn không phải đất đô thị. Xét thấy, việc thực hiện xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo trình tự tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, do vậy cần kiểm tra diện tích đất thực tế bằng việc đo đạc để đối chiếu với diện tích đất được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thay đổi gì so với thời điểm các bên chuyển nhượng hay không và định giá giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm để từ đó có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Việc xác định số tiền phải nộp trước khi xem xét, thẩm định và định giá chỉ mang tính chất tương đối chính vì vậy pháp luật mới quy định là tiền tạm ứng nên không có mức cụ thể số tiền phải nộp như bà H yêu cầu. Hơn nữa sau khi xem xét, thẩm định và định giá xong thì mới quyết toán các chi phí này và thông báo cho bà H biết, nếu chưa đủ thì nộp thêm và còn thừa thì trả lại cho bà H và việc xác định nghĩa vụ ai phải chịu số tiền này được ghi trong bản án, quyết đinh.

Như vậy, Trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu bà H phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tạm ứng chi phí định giá tài sản là đúng quy định tại Điều 155, 156, 163 và Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do bà H không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng quy định. Vì vậy, kháng cáo của bà H không có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hô ̣i đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 100/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của TAND thành phố V.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà H là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.

C¨n cø điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 của Bé luËt tè tông d©n sù;

quyÕt ®Þnh

1. Không chấp nhận kháng cáo của Bà Dương Thị H. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 100/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

2. Về án phÝ: Bà Dương Thị H được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.

3. QuyÕt ®Þnh phóc thÈm cã hiÖu lùc pháp luật kÓ tõ ngµy ra quyÕt ®Þnh./.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ