vanban.org

Quyết định 09

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.

Thời gian chấp hành của Nguyễn Đức T tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, số 70 ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/6/2020). Trong thời… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Xử lý VPHC đối với T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN THOÁNG NHAÁT
TÆNH ÑOÀNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Soá: 09/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Phan Ngọc Thành.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Lan.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai - ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/2020/QĐ - TA ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với:

Đối với: Nguyễn Đức T, sinh năm: 2001.

Nghề nghiệp: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định.

Con ông Nguyễn Đức T (1978) và bà Đỗ Thị Hoàng T.

Tiền án, tiền sự: Không.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Thống Nhất (Do anh Nguyễn Văn Trung Hiếu - Chức vụ: Chuyên viên, đại diện theo ủy quyền).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất: Bà Ngô Phương Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Quá trình thu thập tài liệu, xác minh thông tin xác định được hành vi của Nguyễn Đức T như sau:

Nguyễn Đức T đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp: Ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; không có nơi cư trú ổn định. Nguyễn Đức T nghiện ma túy từ năm 2019 và thường xuyên sử dụng ma túy, loại ma túy thường sử dụng là Amphetamine.

Ngày 18/06/2020, Công an Xã Bkiểm tra và mời Nguyễn Đức T về trụ sở UBND xã làm việc. Bước đầu, đối tượng khai nhận vào ngày 18/6/2020 có sử dụng chất ma túy tại ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Công an xã đã đưa đối tượng đến trạm y tế xã H để xét nghiệm và xác định đối tượng T nghiện ma túy nên đã đề nghị lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Qua xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của Nguyễn Đức T xác định: Đối tượng T sử dụng trái phép chất ma túy và thường xuyên bỏ địa phương đi, không có nơi cư trú ổn định.

Công an xã B đã ban hành Thông báo số: 02/TB-CAX ngày 18/6/2020 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phòng tư pháp huyện Thống Nhất có Công văn số: 334/PTP ngày 01 tháng 7 năm 2020 về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.

Tại công văn đề nghị số: 349/LĐTBXH ngày 08 tháng 7 năm 2020, phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Thống Nhất đề nghị đưa đối tượng Nguyễn Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, thời gian đề nghị là 20 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T với thời gian áp dụng là 20 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai - ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Ý kiến của người bị đề nghị về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị: Người bị đề nghị thừa nhận nghiện ma túy từ năm 2019, việc phòng Lao động – Thương binh và xã hội đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như trên là đúng, tuy nhiên đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ mức thời hạn áp dụng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, và tại phiên họp Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ và đúng trình tự, thủ tục; cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tuân thủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, sau khi xem xét ý kiến của những người tham gia phiên họp, Tòa án nhận định:

* Về tố tụng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện của phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Thống Nhất lập đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hiệu áp dụng, việc lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ đã đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 4, 8, 9, 10, 12 Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

* Về nội dung đề nghị: Theo các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, lời thừa nhận của người bị đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Đức T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mặc dù bản thân T chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn nhưng lại không có nơi cư trú ổn định. Do đó hành vi của Nguyễn Đức T đã đủ yếu tố để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi của Nguyễn Đức T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Nguyễn Đức T là người đã thành niên nhưng không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần và là nguyên nhân của các tội phạm khác, do đó Nhà nước nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy và ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý. Bản thân T biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm.

Do đó việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T là cần thiết, tạo điều kiện cho T chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của hành vi vi phạm hành chính của người bị đề nghị thì thấy: Tại buổi họp xét, T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính tái phạm được quy định tại điểm b, khoản 1, điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp chưa phù hợp với nhận định trên nên cần xét về mức thời hạn áp dụng 16 (Mười sáu) tháng là phù hợp so với tính chất, mức độ hành vi vi phạm hành chính của T.

Ý kiến của người bị đề nghị, nhất trí với đề nghị và không có ý kiến gì khác.

Vì các lẽ trên,

- Áp dụng Khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 điều 10, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Khoản 2 Điều 104, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T.

2. Thời gian chấp hành của Nguyễn Đức T tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, số 70 ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/6/2020).

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xem xét, giải quyết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Đối tượng Nguyễn Đức T, Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện Thống Nhất; Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai là cá nhân, Cơ quan thi hành quyết định này.

Cỡ chữ