vanban.org

Quyết định 09/QĐST-HC — Hành chính

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/08/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 08/2021/TLST-HC, ngày 15 tháng 4 năm 2021 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Ông Hoàng Quốc TU, sinh năm 1964 Địa chỉ: Tổ dân phố PL, phường Z, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai giữa ông Hoàng Quốc TU với UBND thị xã PY"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 08/2021/TLST-HC, ngày 15 tháng 4 năm 2021 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/QĐST-HCThái Nguyên, ngày 30 tháng 08 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 08/TLST-HC ngày 15/4/2021, về “khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

XÉT THẤY:

Ông Hoàng Quốc TU khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG171501, số vào sổ cấp 00019/QSDĐ/số 12333/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thị xã PY cấp ngày 02/11/2011 mang tên ông Hoàng Quốc TU.

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ông Hoàng Quốc TU trình bày: Ông là chủ sở hữu quyền sử dụng đất các thửa đất số 562, tờ bản đồ số 68, diện tích 952m2 mục đích sử dụng là T; thửa đất số 516, tờ bản đồ số 68, diện tích 176m2, mục đích sử dụng là Ao (hồ), địa chỉ thửa đất ở xã PT, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên. Đã được UBND huyện PY (nay là thị xã PY) cấp giấy chứng nhận QSD đất số U772587, số vào sổ cấp 02727 QSDĐ/100/2001/QĐ-UB/H ngày 17/01/2002 mang tên hộ ông Hoàng Quốc TU. Ngày 18/01/2002 diện tích thửa đất 562, TBĐ 68 giảm còn 808m2 theo Quyết định 111/QĐ-UB ngày 18/01/2002. Năm 2011, ông có gửi giấy chứng nhận QSD đất trên cho anh Nguyễn Tấn BI là công chức địa chính để làm thủ tục cấp phép xây dựng. Từ đó đến nay, ông đã yêu cầu anh BI trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông nhưng anh BI nói đã để thất lạc mất, để anh tìm lại. Đến cuối năm 2020, khi ông ra UBND thị xã PY, đề nghị cung cấp hồ sơ cấp giấy chứng nhận số U 772587 ngày 17/01/2002, thì được biết ngày 02/11/2011 UBND thị xã PY, có Quyết định số 12333/QĐ-UBND về việc cấp lại giấy chứng nhận QSD đất, cho gia đình ông đối với thửa đất 562 và 516, tờ bản đồ số 68, lý do cấp lại là do sai tên đệm.

Kiểm tra lại giấy chứng nhận QSD đất được cấp lại số BG171501, số vào sổ cấp 00019/QSDĐ/ số 12333/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thị xã PY cấp ngày 02/11/2011, ông phát hiện trên GCN QSD đất chỉ còn lại thửa đất số 562, tờ bản đồ số 68, diện tích 808m2, còn thiếu thửa đất số 516, tờ bản đồ 68, diện tích 176m2. Các chữ viết, chữ ký trong đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cũng không phải do ông viết và ký. Do đó, ông cho rằng việc UBND thị xã PY cấp GCN QSD đất số BG171501, số vào sổ cấp 00019/QSDĐ/số 12333/QĐ-UBND ngày 02/11/2011 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Ngày 06/4/2021, ông Hoàng Quốc TU đã có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị hủy Giấy chứng nhận QSD đất nói trên.

Sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thu thập được các tài liệu chứng cứ trong vụ án kinh doanh thương mại, khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa: Nguyên đơn là Ngân hàng X và Bị đơn là Công ty Y; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Quốc TU, sinh năm 1964, bà Bùi Thị TI, sinh năm 1964, trú tại Tổ dân phố PL, phường Z, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

Thấy rằng: Đối với vụ án kinh doanh thương mại này, đã được Tòa án nhân dân thị xã PY thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm vào ngày 15/10/2014. Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

+ Hợp đồng thế chấp tài sản số 11.017.021 ngày 17/11/2011 giữa bên nhận thế chấp: Ngân hàng X và bên thế chấp: Ông Hoàng Quốc TU, bà Bùi Thị TI; Bên vay vốn: Công ty Y. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 171501 do UBND huyện PY cấp ngày 02/11/2011 đối với thửa đất số 562, tờ bản đồ số 68, địa chỉ thửa đất tại thị trấn Z, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 808m2, mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị.

+ Tại bản tự khai và đơn đề nghị trưng cầu giám định ngày 15/12/2014 do ông Hoàng Quốc TU viết, đều có nội dung: “…Năm 2010, vợ chồng tôi và con gái tôi có cho anh Ngô Minh HƠ, Giám đốc công ty Y có trụ sở tại khu 2, thị trấn Z, huyện PY (Quan hệ gia đình HƠ gọi tôi là cậu ruột) mượn một số Giấy chứng nhận QSD đất của gia đình, để thế chấp vay tiền tại ngân hàng X, trong thời hạn một năm. Lợi dụng các hợp đồng này, năm 2011 HƠ đã tự ý lấy Giấy chứng nhận QSD đất của hộ gia đình tôi tại địa chính thị trấn Z (do tôi xin cấp đổi lại GCN QSDĐ cho đúng với họ, đệm, tên của tôi theo CMND) và gi mạo ch ký của tôi để hợp thức hóa hồ s tiếp tục vay tiền tại ngân hàng…để làm sáng tỏ sự việc anh Ngô Minh HƠ thông đồng với ngân hàng gi mạo ch ý của tôi là Hoàng Quốc TU và vợ tôi là Bùi Thị TI tại:

- Hợp đồng thế chấp tài s n số 11.017.021 ngày 17/11/2011

…đề nghị Tòa án nhân dân thị xã PY yêu cầu phòng khoa học hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên giám định ch ký ch viết họ và tên Hoàng Quốc TU; Bùi Thị TI có ph i là ch ký, ch viết trực tiếp hay là Photocopy”.

Kết luận giám định số 322/C54-P5 ngày 29/9/2016 của Viện khoa học hình sự – Tổng cục cảnh sát xác định: Trang cuối cùng của hợp đồng thế chấp tài sản số 11.017.021 ngày 17/11/2011, tại mục đại diện bên B của hợp đồng, họ tên chữ viết Hoàng Quốc TU là đúng một người ký và viết ra so với chữ viết đã so sánh. Toàn bộ chữ ký và chữ viết của bà Bùi Thị TI đều do cùng một người ký và viết ra.

+ Tại biên bản hòa giải ngày 11/12/2017, của Tòa án nhân dân huyện PY (ông Hoàng Quốc TU và bà Bùi Thị TI có mặt), phần trình bày của nguyên đơn có thể hiện tài sản bảo đảm vay là Quyền sử dụng đất của ông Hoàng Quốc TU và bà Bùi Thị TI địa chỉ thửa đất tại xóm PL, xã PT, huyện PY (nay là TDP PL, phường Z, thị xã PY), tỉnh Thái Nguyên có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 171501 do UBND huyện PY cấp ngày 02/11/2011, thế chấp theo hợp đồng số 11.017.021 ngày 17/11/2011. Ông Hoàng Quốc TU trình bày: năm 2011 anh HƠ đã giả mạo chữ ký, chữ viết của tôi để thiết lập hợp đồng thế chấp bổ sung, anh HƠ tự ý lấy GCN QSD đất của gia đình tôi làm giả chữ ký chữ viết của vợ chồng tôi để tiếp tục vay ngân hàng. Năm 2014 tôi mới biết được việc làm gian dối của anh HƠ, đề nghị Tòa án yêu cầu bên ngân hàng X trả lại tài sản là giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình tôi.

+ Ngày 23/9/2019, Tòa án nhân dân thị xã PY đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hoàng Quốc TU và bà Bùi Thị TI đều có mặt.

+ Ngày 21/07/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, do có đơn kháng cáo của ông TU và bà TI.

Như vậy, ông TU đã biết việc UBND huyện PY(nay là thị xã PY) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG171501 ngày 02/11/2011 mang tên ông Hoàng Quốc TU từ năm 2011. Nhưng đến ngày 06/4/2021, ông Hoàng Quốc TU mới làm đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy Giấy chứng nhận số BG171501 là đã quá thời hạn 01 năm và thời hiệu khởi kiện đã hết, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015.

“Điều 116. Thời hiệu khởi kiện

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà c quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án gi i quyết vụ án hành chính b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

...

Lý do của việc hết thời hiệu khởi kiện trên không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Quốc TU.

Từ nh ng nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 08/2021/TLST-HC, ngày 15 tháng 4 năm 2021 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Ông Hoàng Quốc TU, sinh năm 1964

Địa chỉ: Tổ dân phố PL, phường Z, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị NA – Luật sư K thuộc đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên

Địa chỉ: Tổ dân phố ĐT, phường ĐB, TPTN, tỉnh Thái Nguyên

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công TH, chức vụ Phó chủ tịch UBND thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

Địa chỉ: Phường Z, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Bùi Thị TI, sinh năm 1964

- Anh Hoàng Quốc TA, sinh năm 1995

Cùng trú tại: Tổ dân phố PL, phường Z, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123 và điểm b và điểm đ Điều 143 của Luật tố tụng hành chính và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Án phí: Trả lại cho ông Hoàng Quốc TU 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000012 ngày 14/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cỡ chữ