- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: TDP Đ, phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/QĐ – TA | Phúc Yên, ngày 26 tháng 01 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Bích.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đinh Xuân Tú
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ - TA ngày 22 tháng 01 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T
Giới tính: Nam
Ngày, tháng, sinh ngày 26/10/1985.
Hộ khẩu thường trú: TDP Đ, phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 4/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H .
Tiền án, tiền sự: Không
Tại ngoại tại địa phương có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư - Phó trưởng phòng - Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn T bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2005 đến nay chưa từ bỏ được. Tại bản tường trình ngày 29/12/2023, Nguyễn Văn T đã thừa nhận ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại nhà riêng tại TDP Đ, phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể thì bị Công an phường P kiểm tra hành chính, lập biên bản và đưa T đi kiểm tra xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 02/01/2024 của Trạm y tế phường P xác định: Nguyễn Văn T có nghiện ma túy Heroine. Công an phường P đã giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các dạng thuốc phiện thay thế quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên T đã không đăng ký và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, Công an phường P đã lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Văn T đi cai nghiện bắt buộc. Ông Nguyễn Văn T1 là bố đẻ Nguyễn Văn T xác nhận T nghiện ma túy từ năm 2005 đến nay. Nguyện vọng của gia đình hoàn toàn nhất trí để các cơ quan chức năng đưa T đi cai nghiện bắt buộc, gia đình không có ý kiến gì. Do vậy, ngày 10 tháng 01 năm 2024 Chủ tịch UBND phường P đã ra Quyết định số: 14/QĐ- UBND về việc quản lý người nghiện ma túy giao T cho ông Nguyễn Văn T1 là bố đẻ T quản lý T, thời hạn quản lý kể từ ngày 10/01/2024 đến khi người có thẩm quyền đưa T đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.
Với hành vi nêu trên, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên có công văn đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn Ttheo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Tại phiên họp, người bị đề nghị Nguyễn Văn T thừa nhận sử dụng chất ma túy từ năm 2005, lần gần nhất sử dụng chất ma túy là ngày 29 tháng 12 năm 2023, thì bị Công an phường P, thành phố Phúc Yên lập biên vi phạm, đưa đi xét nghiệm và lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Tòa án xem xét giảm một phần thời gian chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời hạn từ 15 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:
Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 và hướng dẫn tại Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Đối với Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2005, nhưng không có ý thức cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T như đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên là cần thiết, có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T luôn tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần xem xét thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với T từ 15 (Mười năm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021; khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: TDP Đ, phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có quyền kháng nghị; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên phối hợp với Công an thành phố Phúc có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúch Yên; - Phòng LĐ - TB & XH thành phố Phúc Yên; - Trưởng Công an thành phố Phúc Yên; - UBND phường P; - Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Hoàng Văn Bích |