vanban.org

Quyết định 09/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 25/02/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao độ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Đình D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/QĐ-TAPleiku, ngày 25 tháng 02 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Nhàn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hà.

Ngày 25 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Phạm Đình D (Tên gọi khác: Không).Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 10 tháng 11 năm 1992.

Số CMND:

, ngày cấp:

, nơi cấp:

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 09/12.

Nguyên quán: Thôn Đ, xã T, huyện TM, tỉnh H .

Hộ khẩu thường trú: xã Đ, huyện TM, tỉnh H.

Chỗ ở: Không nơi ở nhất định.

Nghề nghiệp: Buôn bán tự do.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông: Phạm Đình M, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1964.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đoàn Hòa Bình - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (theo Biên bản ủy quyền số: 09/UQ-LĐTBXH ngày 25-02-2021).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Bà Cao Thảo Nga- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Đình D là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định, D bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2020, loại ma túy mà D sử dụng là ma túy tổng hợp dạng “kẹo” và dạng “khay”, D sử dụng bằng hình thức sử dụng là bỏ ma túy dạng kẹo vào miệng và nuốt hoặc bỏ ma túy dạng khay và đĩa sứ dùng ống hút nhựa trực tiếp hít vào cơ thể. Vào 17 giờ ngày 25-12-2020 Phạm Đình D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quán Karaoke Alibaba tại 144/11 Wừu, tổ 3, phường I, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nên bị Công an phường I, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai lập biên bản xử lý vi phạm hành chính số: 0003642/BB-VPHC. Qua xác định, Phạm Đình D không có nơi cư trú ổn định nên Công an phường I, thành phố Pleiku đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Đình D.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 9 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về hành vi vi phạm: Ngày 25 tháng 12 năm 2020, Phạm Đình D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Công an phường Iakring lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25-12-2020. Quá trình làm việc Phạm Đình D đều khai nhận có việc sử dụng ma túy này.

Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 31-12-2020 của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai xác định Phạm Đình D có nghiện ma túy: thuộc nhóm ma túy Ketamin. Phiếu trả lời này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số: 136/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ. Vì vậy, Tòa án có căn cứ khẳng định Phạm Đình D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tài liệu xác định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Biên bản xác minh ngày 31-12-2020 của Công an phường Iakring tiến hành xác minh tại nơi ở đăng ký hộ khẩu thường trú của D xác định “Phạm Dình D, sinh ngày 10/11/1992 con ông Phạm Đình Miến và bà Phạm Thị Xuân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Hiện Phạm Đình D không sinh sống tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú, không rõ đi đâu”.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Kể từ ngày 25-12-2020, Phạm Đình D thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, đến ngày mở phiên họp vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ và theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trưởng Công an phường I lập hồ sơ đối với đối tượng Phạm Đình D và ra Thông báo số: 06/TB – CAP ngày 18-01-2021, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ. Cùng ngày, Phạm Đình D được đọc hồ sơ.

Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.

Phạm Đình D bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2020; loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp dạng “kẹo” và dạng “khay”. Ngoài ra, các lần sử dụng ma túy trước đây của Phạm Đình D không bị phát hiện nên không có căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phạm Đình D có đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước về ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng. Hành vi này của Phạm Đình D không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.

Quá trình giải quyết vụ việc, đối tượng đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D.

Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 4, 8 và 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ; căn cứ Điều 3, 9 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Đình D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Pleiku có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng Phạm Đình D có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ