vanban.org

Quyết định 09/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 14/02/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Huỳnh Trung T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Huỳnh Trung T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Huỳnh Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ LTỈNH A
Số: 09/QĐ-TA
L, ngày 14 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH A

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Thảo.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân T phố L, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 13 tháng 02 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Huỳnh Trung T. Giới tính: Nam.Sinh

năm: 1994.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ văn hóa: 06/12.

Nơi đăng ký thường trú: Số A, khóm T, phường M, T phố L, tỉnh A

(nơi cư trú không ổn định).

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện 02 lần.

Con ông Huỳnh Trung Q, sinh năm 1971 và bà Trịnh Thị N, sinh năm

1969.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Chuyên viên phụ trách công tác phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Phòng Lao động – Thương Binh và Xã hội T phố L, theo Giấy ủy quyền số 08/UQXLVPHC ngày 13/02/2023 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội T phố L.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố L: Ông KiềuVăn Liêu -

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồi 08 giờ 10 phút, ngày 03/02/2023 Công an phường Đ TPLX mời Huỳnh Trung T, sinh năm 1994, khai nơi đăng ký thường trú số A, khóm T, phường M, nghi vấn sử dụng mà túy trái phép trên địa bàn phường Đ để thử Test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với Methamphetamine (Còn gọi là ma túy đá). Quá trình thẩm vấn tại Công an phường Đ, T thừa nhận có sử dụng ma túy trái phép từ năm 2010 và đã 02 lần đi cai nghiện ma túy bắt buộc về hành vi sử dụng ma túy trái phép. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/02/2023 của Trung tâm Y tế T phố L kết luận T nghiện Methamphetamine. Phiếu trả lời xác minh về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 03/02/2023, Trung tá Phan Tuấn K, Phó trưởng Công an phường M, xác nhận: Huỳnh Trung T, sinh năm 1994, có đăng ký thường trú tại số A, khóm T, phường M. Chỗ ở hiện nay: Thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Như vậy ở thời điểm Công an phường Đ mời thử Test tìm chất ma túy thì T thuộc diện sống không có nơi cư trú ổn định. Hồ sơ lưu trữ tại Phòng Lao động -TBXH, TPLX thì T đã 02 lần đi cai nghiện ma túy bắt buộc do sử dụng ma túy trái phép, cụ thể vào các năm 2016 (18 tháng) và gần nhất là năm 2019 (14 tháng) đều với diện không có nơi cư trú ổn định. Ngày 03/02/2023 UBND phường Đ ban hành Quyết định số 23/QĐ-QLNN, giao T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh A (xã L, huyện T) quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 10/02/2023 sau khi đã hoàn tất các thủ tục pháp lý, Chủ tịch UBND phường Đ có công văn số 11/ĐN-UBND đề nghị đưa T đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội T phố L đề nghị Tòa án nhân dân T phố L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Trung T, thời hạn cai nghiện là 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố L tham gia phiên họp phát biểu quan điểm như sau: Tòa án nhân dân T phố L thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Trung T. Thống nhất đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội T phố L, đề nghị Tòa án nhân dân T phố L quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Trung T, thời hạn cai nghiện từ 20 tháng đến 22 tháng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp, ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở văn bản đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội T phố L; căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được xem xét, làm rõ tại phiên họp; ý kiến của cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát như sau:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội T phố L đối với Huỳnh Trung T thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 95, 96, 103 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020.

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Huỳnh Trung T đã đủcơ sở xác định Huỳnh Trung T có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Huỳnh Trung T trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; biên bản vi phạm hành chính; biên bản xác minh. Có đủ căn cứ xác định Huỳnh Trung T là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 03 tháng 02 năm 2023 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở T công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội T phố L về việc đưa Huỳnh Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm: Huỳnh Trung T đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục vi phạm, nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Tuy nhiên, quá trình bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy T có thái độ T khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ cần được xem xét khi quyết định mức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 3 Điều 2, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110, Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 4 Điều 1 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Huỳnh Trung T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:

- Thời hạn khiếu nại của Huỳnh Trung T 03 ngày kể từ ngày nhậnđược Quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ.

- Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Tphố L là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định,

- Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân T phố L là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an T phố L chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội T phố L đưa Huỳnh Trung T vào Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh A.

Cỡ chữ