- Tranh chấp gì? "QUÀNG VAN ĐA"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Quàng Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 09/QĐ-TA | Điện Biên, ngày 11 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
2. Thư ký phiên họp: Ông Lường Văn Đoản
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc" theo Quyết định mở phiên họp số 10/QĐ - TA ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Quàng Văn Đ
Sinh ngày: 01/01/1985
Số căn cước công dân: 0110850026xx Ngày cấp: 10/9/2024 Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.
Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12
Nguyên quán: Xã M, tỉnh Điện Biên.
Hộ khẩu thường trú: Bản Y, xã M, tỉnh Điện Biên.
Chỗ ở: Bản Y, xã M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Con ông: Quàng Văn Ó (đã chết) và bà: Quàng Thị T (đã chết)
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Người đại diện theo ủy quyền của Cơ quan đề nghị: Ông Đoàn Tiến D - Phó trưởng Công an xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên;
2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Vũ Trí G - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Điện Biên;
3. Người bị đề nghị: Quàng Văn Đ
NHẬN THẤY:
1. Nội dung vụ việc:
Tại bản tường trình của mình Quàng Văn Đ thừa nhận là người nghiện chất ma túy từ năm 2021 cho đến nay. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy Trạm y tế xã M kết luận: Đanh nghiện ma túy nhóm MOP. Đ đã bị Công an xã M, tỉnh Điện Biên lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế về hành vi: Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Đ đã được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại Văn bản số 154/ĐN-CAX ngày 29/8/2025 Trưởng Công an xã M, tỉnh Điện Biên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Điện Biên xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Quàng Văn Đ.
2. Ý kiến của những người tham gia phiên họp:
- Người bị đề nghị: Bản thân tôi sử dụng ma túy từ năm 2021 cho đến nay. Tôi đã được các cơ quan chức năng thông báo nhưng tôi đã không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Tôi đã được thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tôi hoàn toàn nhất trí. Đề nghị Tòa án cho tôi được cai nghiện với thời gian thấp nhất.
- Đại diện theo ủy quyền của trưởng Công an xã M: Đ là người nghiện sử dụng ma túy; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” từ 16 tháng đến 20 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Quàng Văn Đ được lập đã đảm bảo về điều kiện và thủ tục; trình tự, thủ tục trước và tại phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời hạn từ 16 tháng đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Quàng Văn Đ sinh năm 1985, có nơi cư trú ổn định tại Bản Y, xã M, tỉnh Điện Biên, đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2021. Kết quả xét nghiệm của Cơ sở y tế có thẩm quyền thể hiện vẫn nghiện chất ma túy, bị lập Biên bản vi phạm về việc Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị được lập đầy đủ, hợp pháp theo Điều 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 và các Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biên pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Quàng Văn Đ có tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; Không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị kết án.
Căn cứ vào hành vi vi phạm, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn phù hợp để người bị đề nghị được cai nghiện, học tập, rèn luyện trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Ý kiến của người bị đề nghị tại phiên họp là không phù hợp nên không được chấp nhận, vì tự bản thân họ không cai được nghiện.
Ý kiến, đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Do Người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị áp dụng biện pháp quản lý bằng hình thức: Quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý, nên thời gian quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc được trừ vào thời hạn cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 20, 21, 23, 24, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021;
Căn cứ vào các Điều 3, 5, 6 và khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 và khoản 3 Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
Căn cứ vào các Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biên pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Quàng Văn Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định ngày 11/9/2025.
Trưởng công an xã M, tỉnh Điện Biên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định ngày 11/9/2025.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Trong thời hạn 05 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này, Công an xã M, tỉnh Điện Biên có trách nhiệm đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng BPXLHC; - Trưởng Công an xã M; - UBND xã M; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB; - TAND tỉnh Điện Biên; - Kế toán; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |