- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trang A T .
- Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH YÊN BÁI Số: 09/QĐ-TA | Trạm Tấu, ngày 02 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lên - Chủ tọa phiên họp.
2. Thư ký phiên họp: Ông Hờ A Say - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
Ngày 02 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 26 tháng 5 năm 2021, đối với:
Họ và tên: Trang A T; giới tính: Nam.
Sinh ngày: 06 -10 - 1976.
CMND: 060936052; cấp ngày: 12-3-2009; nơi cấp: Công an tỉnh Yên Bái.
Dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ.
Nguyên quán: Xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Nghề nghiệp: Trồng trọt
Con ông Trang A N và bà Giàng Thị M.
Tiền án: Không; tiền sự: 01, ngày 10 tháng 11 năm 2020 bị Chủ tịch UBND xã Bản Mù ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 03 (ba) tháng, kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2020 đến ngày 10 tháng 02 năm 2021; nhân thân: Bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh- Giáo dục- Lao động tỉnh Yên Bái, thời hạn là 24 tháng, theo quyết định số 624/QĐ-UBND ngày 17-8-2012 của Chủ tịch UBND huyện Trạm Tấu.
Trang A T vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vi Văn Thực - Phó trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái: Bà Hà Thị Huế - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện như sau: Trang A T là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng theo quyết định số 422/QĐ-UBND ngày 10-11-2020 của Chủ tịch UBND xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu.
Ngày 11-5-2021 Công an xã Bản Mù phối hợp với Trạm Y tế xã Bản Mù xét nghiệm nước tiểu bằng dùng que thử ma túy, kết quả xét nghiệm Trang A T dương tính với chất ma túy.
Tại phiếu xét nghiệm ma túy, Trạm y tế xã Bản Mù đã xác định Trang A T dương tính với ma túy
Tại bản tường trình ngày 11-5-2021 (bút lục số 06) Trang A T khai nhận: Bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2008, loại ma túy thường sử dụng là thuốc phiện, hình thức sử dụng là hút, tình trạng sử dụng ma túy từ 01 đến 02 lần trên ngày, thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 10-5-2021.
Ngày 21-5-2021 phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu có Công văn số 30/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái đối với Trang A T.
Tại phiên họp:
Đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu trình bày tóm tắt nội dung hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trang A T, thời hạn là 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định, áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu, xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Yên Bái đối với Trang A T, thời hạn là 24 tháng.
XÉT THẤY:
Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu đã tiến hành giao thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho Trang A T hợp lệ nhưng tại phiên họp Trang A T vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh 09/2014/ UBTVQH13 Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu tiến hành phiên họp, vắng mặt Trang A T.
Những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trang A T đã bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ, đúng theo quy định tại Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Xét thấy Trang A T đã trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy là đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy. Thuốc phiện là chất gây nghiện có tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe, làm suy giảm nòi giống của người sử dụng, mặt khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương. Do vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trang A T theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ.
Về nhân thân: Trang A T là người nghiện ma túy, có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiền sự này đã được sử dụng là cơ sở cho việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không coi đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Năm 2012 Trang A T bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh- Giáo dục- Lao động tỉnh Yên Bái, thời hạn là 24 tháng, vì vậy cần xác định T có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: Trong quá trình thu thập chứng cứ để lập hồ sơ Trang A T đã tự nguyện khai báo hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính cần xem xét áp dụng đối với Trang A T.
Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính và nhân thân của Trang A T như trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định là cần thiết đồng thời tạo điều kiện cho Trang A T cai nghiện hiệu quả, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 105, Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ khoản 2 Điều 19, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trang A T .
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 19 (mười chín) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trang A T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được tống đạt hợp lệ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện Trạm Tấu, Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Trạm Tấu có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - TAND tỉnh Yên Bái; - Công an huyện Trạm Tấu; - Phòng LĐ-TB và Xã hội huyện Trạm Tấu; - Phòng tư pháp huyện Trạm Tấu; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Trạm Tấu; - UBND xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Lên |